1. Lịch sử hình thành của mô hình tố tụng tranh tụng
Về mặt lịch sử, nếu như mô hình tố tụng thẩm vấn đã tồn tại được hơn tám thế kỷ thì mô hình tố tụng tranh tụng là mô hình khá mới. Theo các nghiên cứu khoa học pháp lý, sự kiện đem lại sự ra đời của yếu tố tranh tụng đầu tiên trong mô hình TTHS là sự ra đời của Đạo luật về phiên tòa xét xử tội phản nghịch (Treason Trials Act) của Vương quốc Anh năm 1696. Đạo luật này lần đầu tiên trao một số quyền tố tụng, trong đó quan trọng nhất là quyền được có luật sư bào chữa cho bị cáo là các chính trị gia cao cấp. Có thể nói, đây là kết quả của quá trình đấu tranh giữa giai cấp tư sản đang lên và Vương triều phong kiến Anh lúc bấy giờ. Đến năm 1730, các quyền tố tụng này được mở rộng ra tới đối tượng thứ dân trong xã hội. Đặc trưng của các phiên xử lúc này là có sự tham gia của các luật sư bào chữa cho bị cáo (tuy còn ở mức độ khiêm tốn). Đến cuối thế kỷ 18, dựa trên học thuyết của John Locke, các luật sư đại diện cho tầng lớp thứ dân của Anh lúc đó đã phát triển việc luật sư tham gia phiên tòa xét xử và tranh luận để tìm công lý thành một quan điểm lý luận chính trị trong số những quan điểm mang tính cách mạng thời kỳ bấy giờ. Kể từ đó, quyền được có luật sư bào chữa của bị cáo ngày càng được tôn trọng, vai trò của luật sư trong các phiên tòa xét xử ngày càng cao với tư cách là người bảo vệ một cách tích cực quyền lợi cho bị cáo. Đến khoảng giữa thế kỷ 19, mô hình phiên tòa xét xử tranh tụng đã bắt đầu được hình thành.
Trong nửa cuối thế kỷ 19, một loạt các quyền tố tụng khác của bị cáo và luật sư bào chữa tiếp tục được bổ sung vào mô hình TTHS của Anh và các nước thuộc địa.
Thập kỷ 60 của thế kỷ 20 là giai đoạn chứng kiến sự phát triển mới trong mô hình tranh tụng, cụ thể là tại Hoa Kỳ, lần này với sự bùng nổ các quyền tố tụng của luật sư trong giai đoạn tiền xét xử. Với hàng loạt án lệ, Tòa án tối cao liên bang Hoa Kỳ đã trao cho luật sư những quyền tố tụng quan trọng ở cả cấp bang và liên bang như: quyền được tiếp cận luật sư trong giai đoạn tiền xét xử; quyền tiếp cận luật sư của bị can, bị cáo nghèo; quyền tiếp cận luật sư của bị can, bị cáo nghèo trong giai đoạn tiền truy tố; việc mở rộng áp dụng tới cấp bang quy định không sử dụng một số bằng chứng vi phạm thủ tục tố tụng; và nghĩa vụ của cảnh sát phải thông báo cho bị can đầy đủ các quyền tố tụng khi bắt họ. Cho đến thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ 20, các quyền này được du nhập ngược trở lại để áp dụng cho giai đoạn tiền xét xử ở Vương quốc Anh. Có thể nói, kể từ đó, mô hình tố tụng tranh tụng đã được hình thành đầy đủ ở các nước thuộc hệ thống thông luật với đầy đủ các đặc điểm như hiện nay.
2. Mục đích của mô hình tố tụng tranh tụng
Bất kỳ một mô hình TTHS nào cũng đều có mục đích là tìm ra được sự thật khách quan của các vụ án hình sự. Mục đích này không đồng nghĩa với việc phải tìm ra tội phạm mà là tìm xem thực chất trong vụ án hình sự đó sự việc xảy ra như thế nào. Đối với một vụ án hình sự cụ thể thì mục đích của mô hình tố tụng hay nói cách khác là mục đích của các chủ thể tham gia là tìm xem sự thật có phải là bị cáo trong vụ án đó đã phạm tội hay không.
Các học giả pháp lý từ các nước thuộc hệ thống thông luật cho rằng, đối với mô hình tố tụng tranh tụng, ngoài mục đích tìm ra sự thật khách quan còn một mục đích khác nữa đó là bảo đảm sự công bằng (fairness) trong thủ tục tố tụng. Thực chất, “công bằng” vừa có thể được coi là một mục đích của mô hình tố tụng tranh tụng vừa có thể được coi là cách thức mà mô hình tố tụng này sử dụng để đạt được mục đích cuối cùng là tìm ra sự thật khách quan. Để so sánh, có thể thấy rằng, mô hình tố tụng thẩm vấn cũng có mục đích tìm ra sự thật khách quan của vụ án hình sự và cách thức mà họ áp dụng để đạt được mục đích đó là huy động các cơ quan tố tụng của nhà nước đi tìm tất cả các bằng chứng có thể để xác định sự thật khách quan; trong khi đó, mô hình tranh tụng chủ trương tìm ra sự thật khách quan bằng cách tạo ra quy trình thủ tục thật công bằng để các chủ thể đi tìm sự thật theo cách của mình, từ đó, một người xét xử độc lập, tức là tòa án mà trực tiếp là bồi thẩm đoàn, xác định ra sự thật chân chính của vụ án.
3. Đặc điểm cơ bản của mô hình tố tụng tranh tụng
Thứ nhất, tinh thần cốt lõi của mô hình tố tụng tranh tụng luôn luôn là thủ tục công bằng (fair procedures), trong đó bắt buộc có các yếu tố như: xét xử bằng lời nói (oral hearing), thẩm tra chéo nhân chứng (cross-examination) và nguyên tắc đối tụng công bằng (equality of arms).
Thứ hai, vì quá đề cao yếu tố công bằng trong thủ tục tố tụng nên mô hình tranh tụng dường như thiên về bảo vệ các lợi ích cá nhân trong các vụ án hình sự. Trong mô hình này, một hành vi phạm tội được xem là xâm hại lợi ích cá nhân của các bên trong vụ án hình sự và việc trừng trị tội phạm là để bảo vệ lợi ích cá nhân của bên bị thiệt hại. Trong khi đó, mô hình tố tụng thẩm vấn luôn coi một tội phạm hình sự ngoài việc xâm hại tới lợi ích cá nhân còn xâm hại tới lợi ích của cộng đồng, vì thế trừng trị tội phạm ngoài việc bảo vệ lợi ích cá nhân của đương sự trong vụ việc còn nhằm bảo vệ lợi ích cộng đồng.
Thứ ba, trong mô hình tố tụng tranh tụng không tồn tại một “hồ sơ hình sự” theo nghĩa sử dụng trong mô hình tố tụng thẩm vấn. Trong giai đoạn tố tụng trước xét xử, bên buộc tội và bên bào chữa đều có quyền lập hồ sơ bao gồm các chứng cứ bản thân họ thu thập được về vụ việc. Với lợi thế tự nhiên trong hoạt động điều tra của mình, hồ sơ do bên buộc tội lập thường là hồ sơ chính và có nhiều chứng cứ nhất. Mặc dù vậy, tất cả các bộ hồ sơ này đều chỉ phục vụ mục đích sử dụng cá nhân. Khi ra phiên tòa xét xử, cả hai bộ hồ sơ đều không đương nhiên có giá trị chứng cứ bởi vì chỉ có chứng cứ nào được trình bày và thẩm tra tại tòa bằng lời nói mới được sử dụng để định tội.
Thứ tư, trong mô hình tố tụng tranh tụng, quyền được im lặng của bị cáo được tuyệt đối tôn trọng. Đối với mô hình này, bên buộc tội là bên có trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội, còn bản thân bị cáo không có trách nhiệm phải chứng minh mình vô tội. Chính vì thế, lẽ đương nhiên là bị cáo không phải trình bày hay thanh minh trước tòa. Việc bị cáo không thanh minh cho bản thân không phải là dấu hiệu của việc bị cáo có thể đã phạm tội.
Thứ năm, mô hình tố tụng tranh tụng có các quy định rất phức tạp và chặt chẽ về các chứng cứ có thể được sử dụng tại phiên tòa xét xử. Trong đó có các quy định như không được sử dụng các chứng cứ gián tiếp (hearsay), chứng cứ nhằm kích động bôi xấu bị cáo, đương sự hay người làm chứng (inflamatory), hoặc chứng cứ nhằm đánh vào tình cảm của bồi thẩm đoàn (gruesome). Các chứng cứ được thu thập mà vi phạm thủ tục tố tụng, ví dụ khám nhà khi chưa có lệnh, xét hỏi khi chưa thông báo quyền v.v.. cũng không được sử dụng theo thuyết “cây của quả độc” (fruit of poison tree).
4. Ưu điểm và nhược điểm của mô hình tố tụng tranh tụng
- Ưu điểm:
Thứ nhất, mô hình tranh tụng có một quy trình tố tụng, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử, thể hiện tính công bằng cao. Sự công bằng mà mô hình tranh tụng mang lại, ngoài tính ưu việt tự nhiên của nó, còn có thể đem lại những tác động tích cực tới chất lượng của quá trình tố tụng. Luật sư có thể tham gia đầy đủ vào quá trình tố tụng nên tòa án có thêm được một nguồn thông tin giá trị để khám phá sự thật khách quan của vụ án. Thay vì chỉ xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ hình sự của mô hình thẩm vấn thì đoàn bồi thẩm của mô hình tranh tụng được tiếp cận chứng cứ của cả bên buộc tội và bên gỡ tội. Sự va đập hai phiên bản sự thật, mặc dù qua lăng kính chủ quan của bên công tố và bên bào chữa cũng có thể giúp tìm ra sự thật khách quan một cách chính xác hơn. Chất lượng tố tụng vì thế cũng có thể được nâng cao hơn.
Trong một mô hình tố tụng tranh tụng có tính công bằng cao, người bào chữa và bị cáo cũng dễ cảm thấy rằng mình đã có một cơ hội tốt và công bằng để đi tìm công lý. Vì vậy, họ sẽ ít có xu hướng kháng cáo hơn.
Thứ hai, với sự công bằng của quy trình tố tụng, mô hình tranh tụng thể hiện ở mức độ cao hơn sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân. Vai trò của luật sư giúp giảm đi sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này hết sức quan trọng bởi vì quá trình TTHS là một quá trình hết sức nhạy cảm mà ở trong đó quyền cơ bản của công dân rất dễ bị vi phạm. Cũng chính vì vậy, giới nghiên cứu thường có nhận định chung là ở trong mô hình tranh tụng, quyền được suy đoán vô tội của người dân được tôn trọng hơn so với các mô hình TTHS khác.
- Nhược điểm:
Thứ nhất, người có nhiệm vụ xét xử tham gia một cách thụ động vào phiên tòa và là người không chuyên nghiệp, đó chính là thành viên đoàn bồi thẩm.
Thứ hai, việc quá đề cao sự đối tụng giữa các lợi ích cá nhân làm cho mô hình tranh tụng không phản ánh được hết tầm quan trọng của việc bảo vệ lợi ích công cộng trong các vụ án hình sự. Chính điều này dẫn đến việc áp dụng tràn lan hình thức đàm phán nhận tội dẫn tới khả năng bỏ lọt những tội phạm nghiêm trọng có tác động lớn tới trật tự xã hội hoặc việc xét xử chúng có tính giáo dục cao.
Thứ ba, trong mô hình này, năng lực của luật sư có vai trò quyết định tới phán quyết của đoàn bồi thẩm. Điều này dẫn đến tình trạng các luật sư giỏi sẽ được nhiều người muốn thuê và gây nên bất công cho những người nghèo không có điều kiện để thuê luật sư giỏi, vốn nổi tiếng là có chi phí cao, điều này gây nên sự bất công cho người nghèo so với người giàu.
Thứ tư, không kiểm soát được thời gian xét xử. Trong mô hình tranh tụng, thẩm phán và đoàn bồi thẩm không biết về vụ án từ trước và cũng không kiểm soát một cách toàn diện đối với thời gian xét xử. Người quyết định thời gian xét xử bao lâu lại chính là các bên đối tụng, những người thường tận dụng thời gian tối đa tại phiên xét xử để thuyết phục đoàn bồi thẩm nghe theo lập luận của mình.
5. Bổ sung nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” trong BLTTHS 2015
Tại Việt Nam, yêu cầu cải cách tư pháp, hoàn thiện thủ tục tố tụng hình sự nói chung, tranh tụng trong xét xử nói riêng đã được đề ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, trong đó đặt ra yêu cầu phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền và lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định; coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp. Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận tranh tụng thành một nguyên tắc, cụ thể là: "Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm" (khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013).
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có nhiều nguyên tắc quan trọng, thể hiện rõ tư tưởng đề cao tranh tụng trong tố tụng hình sự, lấy kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm căn cứ chủ yếu để Tòa án ra phán quyết. Cụ thể là nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11); Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19). Ngoài ra, Bộ luật này còn có những sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc khác nhằm bảo đảm tốt hơn cho các bên tranh tụng bình đẳng trong tố tụng hình sự như quy định rõ hơn về trách nhiệm chứng minh tội phạm của cơ quan tiến hành tố tụng... Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa đưa vấn đề tranh tụng thành một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử, thể hiện quan điểm chỉ đạo, định hướng tư tưởng xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật của các chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng. Do đó, để nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại phiên tòa hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và làm cơ sở cho việc xây dựng các quy định cụ thể vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đưa vấn đề tranh tụng trong xét xử thành một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng, giữ vai trò chi phối và định hướng cho toàn bộ hoạt động và hành vi tố tụng của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án hình sự, phù hợp với chức năng tố tụng của các chủ thể. Cụ thể tại Điều 26 BLTTHS 2015 quy định:
"Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.
Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.
Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”.
Trên cơ sở bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa nguyên tắc này, bảo đảm nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)