1. Lĩnh vực nông nghiệp trong thương mại quốc tế

Nông nghiệp đã từng là một lĩnh vực gây nhiều tranh cãi về thương mại hơn cả ngành dệt may. GATT không lãng quên ngành nông nghiệp mà chỉ đối xử với ngành này một cách khác biệt bằng cách loại nó ra khỏi những quy tắc căn bản nào đó (Josling, Tangermann, và Warley 1996). “Những ngoại lệ” chủ yếu cô lập các sản phẩm nông nghiệp khỏi quyền lực đầy đủ của các quy tắc của GATT được tích hợp trong Điều XI - cho phép tiếp tục duy trì những hạn chế định lượng trong những tình huống nào đó; Điều XVI - chấp nhận trợ cấp xuất khẩu cho những sản phẩm thô; và Điều XX - công nhận quyền của các quốc gia được sử dụng hạn chế thương mại để hỗ trợ các tiêu chuẩn về sức khỏe và an toàn. Mỗi ngoại lệ trong số các ngoại lệ này đều tạo ra một loạt vấn đề cho những ai thiết tha muốn thấy một hệ thống thương mại tự do toàn diện và bền vững: trong từng trường hợp, mỗi ngoại lệ là một phản ứng đối với những áp lực chính trị quốc nội ở các nước lớn.

Tuy nhiên, một điều khoản trong Hiệp định GATT (Điều XI) không cho phép hạn chế về số lượng nhập khẩu nói chung đã xác định rõ ràng chúng có thể được sử dụng để hỗ trợ việc kiểm soát số lượng đối với sản xuất nội địa- Một chế độ hạn ngạch nội địa như vậy, hoặc những chương trình kiểm soát cung cấp là hiện tượng phổ biến trong các nước công nghiệp hóa, được dùng làm công cụ để cân bằng thị trường trong nước. Lập luận này tỏ ra hết sức vững chắc: nếu như kiểm soát nguồn cung trong nước mà lại cho phép nhập khẩu không hạn chế số lượng thì sẽ làm hỏng tính hiệu quả của các chính sách đối nội. Nhưng vấn đề là ở chỗ, rất dễ dàng lập ra một chương trình kiểm soát nguồn cung cho dù có hiệu quả hay không, và biến nó thành một phương thức biện minh cho việc kiểm soát số lượng hàng nhập khẩu; trong nhiều trường hợp đó là phương tiện ban đầu để giữ cho giá trong nước luôn cao. Và như vậy, một trường hợp kinh tế bị GATT loại trừ đã biến thành tấm lá chắn chính trị che giấu sự bảo hộ mạnh mẽ hơn.

2. Trợ cấp xuất khẩu hàng nông nghiệp

Một trường hợp tương tự trong việc “bắt giữ” quy tắc của GATT xảy ra trong lĩnh vực trợ cấp xuất khẩu. Đối với những mặt hàng phi nông nghiệp, người ta nhận ra rằng trợ cấp xuất khẩu nằm trong số các chính sách hạn chế thương mại nặng nề nhất. Nhưng đối với nông nghiệp, những trợ cấp như vậy được sử dụng trong công cuộc bình ổn (và nâng đỡ) giá cả nội địa. Trong trường hợp này vấn đề là ở chỗ không thể tách bạch rạch ròi các chính sách được thiết kế để bình ổn giá cả với các chính sách chủ yếu là để nâng đỡ sản xuất nội địa và loại trừ giá trị thặng dư có tính chất cơ cấu trên thị trường quốc tế dù phải hy sinh các nhà cung cấp có hiệu quả hơn nhiều. Điều XVI, và sau đó là bộ Luật Trợ cấp (Subsidies Code - xem bên dưới) đã cố gắng hạn chế những chính sách này nhằm giúp cho các nhà xuất khẩu một “phần công bằng hơn” trong thương mại thế giới. Các cuộc tranh cãi trong thập niên 1980 đã cố làm cho nguyên tắc này hoạt động nhưng vô ích (theo Josling và Tangermann, 2003).

Nguyên tắc căn bản hướng dẫn các chính phủ là không thể cho phép các quy tắc thương mại can thiệp vào việc điều hành thị trường nội địa: Điều XI và Điều XVI của Hiệp định GATT được thiết kế nhằm bảo đảm rằng chính sách nông nghiệp được miễn khỏi một số quy định áp dụng trên thị trường thương mại một số mặt hàng khác. Gốc rễ của vấn đề là ở chỗ, chính sách hỗ trợ các nông trại trong nước muốn có hiệu quả thì vừa cần có sự bảo hộ ở biên giới, thực hiện qua hạn chế số lượng nhập khẩu vừa kích cầu bằng trợ cấp xuất khẩu. Nhưng ngay cả các quy tắc đã bị làm suy yếu trong những điều khoản này cũng đã không được thực thi một cách quyết liệt. Năm 1955 Hoa Kỳ từ bỏ việc áp dụng Điều XI, thúc đẩy việc đưa nông nghiệp ra khỏi những quy định đang có hiệu lực. Còn EU thì chọn “chính sách thuế linh hoạt” làm công cụ chủ yếu để bảo hộ ở biên giới - trong suốt ba mươi năm chính sách thuế linh hoạt này vẫn chưa được làm rõ trong Hiệp định GATT. Và như vậy, hai “siêu cường” về nông nghiệp đã tháo dỡ một cách hiệu quả sự xem xét kỹ lưỡng những chính sách nông nghiệp của GATT.

3. Hiệp định về nông nghiệp

Hiệp định về Nông nghiệp của Vòng Uruguay (URAA) đã chấn chỉnh các “ngoại lệ” này. Các rào cản phi thuế quan được thay bằng thuế quan có tính chất bắt buộc, và chấm dứt việc áp dụng điều khoản về kiểm soát nguồn cung của Điều XI. Sự từ bỏ của Hoa Kỳ bị rút lại. Chính sách thuế linh hoạt đặc biệt bị cấm chỉ trong thỏa thuận URAA và trợ cấp xuất khẩu bị hạn chế. Hiệp định URAA thiết lập những quy tắc mới, cải tiến một cách cơ bản hệ thống thương mại nông sản-thực phẩm. Đặc biệt hơn nữa, Hiệp định đã:

>> Xem thêm:  Miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là gì ?

- Chuyển đổi các biện pháp phi thuế quan ở biên giới thành thuế và ràng buộc mọi sắc thuế (ví dụ như, không thể tăng thuế mà không có sự đàm phán với các nước khác);

- Giảm thuế suất khoảng 36% (bình quân) trong vòng sáu năm trên cơ sở thuế suất năm 1986-1988, với mức giảm tối thiểu 15% cho mỗi dòng thuế (giảm 24% trong vòng 10 năm cho các nước đang phát triển);

- Thiết lập những quy tắc cho việc áp dụng những sắ.c thuế (phòng vệ) bổ sung (cho tới một phần ba mức thuế bình thường) nếu khối lượng nhập khẩu tăng vọt lên hoặc nếu giá cả trên thị trường rơi xuống dưới mức giá báo động đã được xác định trước đối với những mặt hàng phải chịu thuế nhập khẩu;

- Tạo ra những cam kết tiếp cận tối thiểu như là một sự chia sẻ việc tiêu dùng trong nước đối với những sản phẩm là đối tượng chịu thuế;

- Giảm hỗ trợ nội địa - được đo lường bằng Tổng hỗ trợ gộp (Aggregate Measure of Support - AMS) lấy căn cứ từ năm 1986- 1988 - ở mức 20% trong vòng sáu năm (không bao hàm sự hỗ trợ nội địa nào được coi là làm méo mó thương mại ở mức tối thiểu; và trong một số điều kiện nào đó việc thanh toán trực tiếp cho chương trình giới hạn sản xuất không bao gồm trong những cắt giảm của AMS);

- Nghiêm cấm những trợ cấp xuất khẩu mới và đưa ra những sự kiềm chế đối với những trợ cấp đang tồn tại (chi tiêu ngân sách cho trợ cấp xuất khẩu phải giảm 36% và khối lượng phải giảm 21% trong thời kỳ thực hiện kéo dài sáu năm).

Các nước đang phát triển chỉ phải chịu hai phần ba các khoản cắt giảm về thuế quan, trợ cấp nội địa và trợ cấp xuất khẩu trong thời kỳ 10 năm.

Cái giá chính trị mà những ai quan tâm tới việc ngành nông nghiệp tái gia nhập vào dòng chính của hệ thống quy tắc GATT/WTO có thể rút ra được là sự loại trừ trong vòng 9 năm tác động đầy đủ của thỏa thuận về trợ cấp (Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng, được miêu tả bên dưới) áp dụng trong trợ cấp nông nghiệp (nội địa và xuất khẩu). Điều 13 của URAA (được biết tới như là Điều khoản Hòa bình) đã cung cấp chỗ trú ẩn đáng kể cho những trợ cấp nông nghiệp như vậy cho đến tận năm 2004, nếu không thì chúng đã bị thách thức theo thỏa thuận mới.15 Mặt khác, những quốc gia nào quan tâm theo đuổi mục tiêu lâu dài là tích hợp các quy tắc thương mại nông sản với các quy tắc về hàng công nghiệp đã có thể đưa vào URAA một điều khoản (Điều 20) bắt buộc các nước thành viên phải tiếp tục cải tổ quy trình và thúc đẩy đàm phán sâu hơn vào cuối giai đoạn chuyển đổi (nghĩa là vào năm 2000). Nhưng để minh họa cho sự cân bằng đạt được giữa các quan điểm khác nhau, Điều 20 cũng nhận ra nhu cầu phải đề cập tới “những mối quan tâm phi thương mại" - một quan niệm được đưa ra từ các nước như Nhật Bản - những nước lo ngại về tác động của tự do hóa thương mại đối với ý nghĩa xã hội của sản xuất nông nghiệp và mối rủi ro về an ninh nếu phải phụ thuộc hoàn toàn vào thực phẩm nhập khẩu.

Hai khía cạnh khác của URAA tỏ ra rất có ý nghĩa trong bối cảnh rộng lớn hơn của hệ thống thương mại. Việc bao hàm những khía cạnh có ý nghĩa của sự đối xử đặc biệt và thiên vị vào những điều khoản của URAA (cả về mặt quy tắc và trong thời gian biểu tự do hóa thương mại) là cần thiết để giành được sự ủng hộ của các nước đang phát triển, những nước đang lo ngại rằng các quy tắc được tiếp thu rộng rãi nhằm kiềm chế sự quá đáng của các chính sách nông nghiệp các nước giàu có thể đụng chạm đến những chiến lược phát triển của chính họ. Nhưng việc làm suy yếu những điều khoản của URAA như vậy cho dù vì lợi ích của các nước đang phát triển cũng có những tác động không mong muốn khi mức bảo hộ ở biên giới của chính họ vẫn duy trì ở mức cao và sự lệch lạc thương mại ở lĩnh vực này trong các thỏa thuận khu vực giữa các nước đang phát triển vẫn không được giảm thiểu. Sự thành lập một ủy ban Nông nghiệp trong khuôn khổ WTO là một hoạt động có ý nghĩa, cung cấp cho các quốc gia khả năng thách thức những chính sách của nhau và kích hoạt một quá trình chuẩn bị cho những cuộc thương thảo hiện hành được tiếp tục diễn ra trong một thể thức tương đối thân thiện.

>> Xem thêm:  Tập quán thương mại quốc tế là gì ? Tìm hiểu về tập quán thương mại quốc tế ?

4. Nhận xét Hiệp định về Nông nghiệp

Cũng như trường hợp ATC và lĩnh vực dệt may, Hiệp định về Nông nghiệp làm cho các quy tắc điều hành thương mại nông sản phù hợp hơn với các loại sản phẩm khác. Nhưng cũng như thuế suất hàng dệt may vẫn còn cao, Hiệp định Nông nghiệp đã làm được rất ít cho công cuộc tự do hóa thương mại các sản phẩm nông nghiệp và cải thiện việc tiếp cận thị trường. Bình quân thuế suất nông nghiệp tất cả các loại sản phẩm và quốc gia là khoảng 61%. Thuế suất đánh vào các mặt hàng nông sản bình quân vẫn cao gấp năm lần so với hàng công nghiệp và vì vậy tiếp tục làm méo mó các mô hình thương mại Quá trình “thuế quan hóa” các biện pháp phi thuế ở biên giới đã sản sinh ra một số các sắc thuế bắt buộc ở các mức cao (mức thuế cực lớn - megatariffs) đến nỗi thật khó mà thấy được làm sao có thể cắt giảm chúng bằng các kỹ thuật giảm thuế quy ước.Trong khi cơ chế hạn ngạch tương ứng với thuế suất được đem ra đàm phán để tưởng thưởng cho các thị trường nông sản mở rộng thì triển vọng của việc cho thuê mướn hạn ngạch đã dẫn các chính phú tới việc phát triển một mạng lưới các thỏa thuận song phương và các nhà hoạt động trong khu vực tư nhân để chống lại sự bành trướng của cơ chế hạn ngạch đó. Việc này đến lượt nó lại góp phần làm trầm trọng thêm cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thương mại của nhà nước và thương mại tư nhân.

Có lẽ “ngoại lệ” có ý nghĩa nhất trong lĩnh vực thương mại nông nghiệp là trợ cấp xuất khẩu vẫn còn tồn tại và trong thực tế đã được hợp pháp hóa qua việc thu nạp nó vào các thời gian biểu của quốc gia. Những trợ cấp như vậy vẫn chế ngự thị trường các sản phẩm sữa, đường và có tác động làm đình trệ giá ngũ cốc. Việc loại bỏ các ượ cấp xuất khẩu này, được áp dụng trước tiên ở khối EU, đã trở thành mục tiêu chính của các nhà xuất khẩu khác chuyên xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp vùng ôn đới và đã được các nước đang phát triển thúc đẩy tích cực trong Vòng Doha, ở nhiều quốc gia, chi phí hỗ trợ ngành nông nghiệp nội địa đang tăng lên cho dù chúng được thanh toán bằng những phương thức ít gây méo mó thương mại hơn. Nói tóm lại, người ta đòi hỏi các nước công nghiệp lớn thực hiện những thay đổi tương đối nhỏ trong chính sách nông nghiệp nội địa để làm cho chúng phù hợp hơn với thỏa thuận, còn các thị trường thì thông thoáng hơn một chút so với buổi khởi đầu của vòng Uruguay.

Thế thì tại sao chúng ta đã không nhìn thấy sự nổi lên nhanh chóng một hệ thống thương mại tự do đối với sản phẩm nông nghiệp ngay từ lúc khởi đầu của WTO? Các chương trình nông nghiệp rất khó thay đổi ở nhiều nước phát triển và ý tưởng để cho các thỏa thuận thương mại kiềm chế những chương trình này thường không được các chính trị gia quốc nội và các nhóm lợi ích ủng hộ.Tuy nhiên theo thời gian, đã có một sự kéo dài đáng kể các quy tắc thương mại để tích hợp những ràng buộc này vào hành xử của các chính phủ trong lĩnh vực chính sách nông nghiệp, về bản chất, những nỗ lực của các nhà thương thuyết tại Vòng Uruguay đã đi về hướng thảo ra những quy tắc thương mại cho lĩnh vực nông nghiệp mà không theo hướng hạ thấp các rào cản thương mại. Việc hạ thấp thuế suất nhập khẩu và trợ cấp nội địa, trợ cấp xuất khẩu là nhiệm vụ của vòng đàm phán hiện hành về thương mại nông sản, bắt đầu từ tháng 3-2000 và sau này được tích hợp thành một phần của Nghị trình Phát triển Doha. Thành công trong việc thiết lập những quy tắc mới cho hoạt động thương mại hàng nông nghiệp cuối cùng sẽ được xét đoán bằng mức độ mà các quốc gia theo đuổi việc mở cửa thị trường. Nhiều cuộc đấu tranh chính trị giữa những người ủng hộ thương mại tự do và những người theo chủ nghĩa bảo hộ nông thôn vẫn còn nằm ở phía trước.

Một thước đo rõ ràng, dù hạn chế, thành công trong công cuộc cải cách thương mại nông sản theo sau Vòng Uruguay là cách thức mà các quốc gia thực hiện cam kết của mình. Trần thuế suất vẫn chưa bị vượt qua, cơ chế hạn ngạch tương ứng thuế suất đã được đưa vào vận hành, dù không phải lúc nào cũng hoàn thành được, trợ cấp xuất khẩu đã giảm theo thời gian biểu mặc dù thị trường thế giới rất yếu ớt và hỗ trợ nội địa ở nhiều quốc gia đã xuống dưới mức độ cho phép. Tiến trình thông báo và giám sát đã trở nên triệt để hơn và thông tin về chính sách, thực tiễn thương mại hàng nông sản hiện nay đã có sẵn, thể hiện một sự gia tăng đáng kể về tính minh bạch. Những cuộc tranh luận trong nội bộ ủy ban Nông nghiệp của WTO đã tạo ra nền tảng hiểu biết lẫn nhau giữa các chính phủ, đến lượt nó lại mở đường cho các cuộc đàm phán xa hơn, sâu hơn. Sự chấp nhận Hiệp định Nông nghiệp cũng đã kiềm chế một cách rõ ràng các xung đột thương mại gây ra bởi những tác động bên ngoài của chính sách hỗ trợ nông trại. Thay vì vậy, đa số các cuộc xung đột thương mại lại được nuôi dưỡng bằng các vấn đề an toàn thực phẩm, môi trường sinh thái có phần thứ yếu so với bảo hộ nông nghiệp, chẳng hạn như xung đột chung quanh những quy định về sinh vật biến đổi gen.

5. Nguyên nhân dẫn đến những thất bại trong lĩnh vực nông nghiệp

Những thất bại trong lĩnh vực nông nghiệp phát xuất từ những xung đột cố hữu giữa các nước cho rằng mở cửa thị trường là giải pháp cho những vấn đề mà nền nông nghiệp quốc nội phải đương đầu và những nước thấy rằng thị trường mở như vậy là một mối đe dọa cho sự phát triển mà họ mong muốn đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp. Chính sách thương mại bao giờ cũng đưa đến một sự thỏa hiệp giữa những người tìm kiếm thị trường nước ngoài và những người muốn bảo vệ thị trường của họ trước sự xâm nhập của những người khác. Những tiến bộ về hướng tự do hóa thương mại diễn ra chậm chạp trong lĩnh vực nông nghiệp vì những lý do hiển nhiên là có nhiều nhóm chống lại những tiến bộ như vậy. Tất cả những gì WTO có thể làm là đặt ra quy tắc nhằm kiềm chế các mối xung đột này và cố gắng đưa các quốc gia tiến dần theo thời gian tới một hệ thống thương mại thỏa mãn được nhu cầu của các quốc gia thành viên.

Động lực này là khuôn khổ cho những cuộc thương thảo hiện hành về thương mại nông sản. Một nhóm quốc gia đã quyết nhìn thấy hệ thống thương mại hàng nông sản phải chuyển biến nhanh và dứt khoát về hướng hệ thống đã được áp dụng cho sản phẩm công nghiệp. Nhóm Cairns, gồm những nhà xuất khẩu hàng nông sản cỡ trung, đấu tranh cho sự giảm thiểu cơ bản hàng rào thuế quan theo một công thức sẽ đặc biệt cắt giảm “các siêu thuế suất (megatariffs), giảm trợ cấp nông nghiệp, kiềm chế mạnh hơn các hình thức hỗ trợ nội địa và xóa bỏ những quy tắc kiểu như sự bảo vệ “đặc biệt” áp dụng cho ngành nông nghiệp ở một số quốc gia.23 ở cực phía bên kia, Nhật Bản và Hàn Quốc cực lực chống lại bất cứ sự cắt giảm nào mức thuế suất cao mà họ đang áp dụng, chống lại áp lực buộc cắt giảm hỗ trợ nội địa trên cơ sở lập luận rằng nông nghiệp đóng vai trò xã hội rất quan trọng. Mới nổi lên trên sân khấu đàm phán là một liên minh lỏng lẻo các nước đang phát triển, được nói tới như là nhóm G-20. Nhóm này tập hợp với một mục tiêu kép là vừa làm áp lực buộc Hoa Kỳ và EU (và Nhật Bản) phải giảm bảo hộ vừa làm lệch hướng mong muốn của các nước phát triển muốn nhìn thấy thị trường nhập khẩu của chính các nước G-20 được tự do hóa nhanh chóng.

Trong những cuộc thương thảo trước đây, đáng ngạc nhiên là lập trường của Hoa Kỳ và EU tỏ ra không quá cách xa nhau, cả hai đều cam kết giảm thuế nhập khẩu, mặc dù Hoa Kỳ sẽ đẩy mạnh việc cắt giảm nhiều hơn các mức thuế cao hơn, cả hai vẫn bị thúc ép bởi các áp lực quốc nội trong việc mở cửa những thị trường nhạy cảm như là thị trường đường và sản phẩm sữa. Cũng đã có một thỏa thuận hạn chế nhiều hơn nữa trợ cấp xuất khẩu nhưng EU đã đặt ra một cái giá cho thỏa thuận của mình về cắt giảm và có thể tiến tới xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu: Hoa Kỳ sẽ phải kiềm chế các chương trình tín dụng xuất khẩu và ngân khoản hỗ trợ thực phẩm của mình, về sự hỗ trợ nội địa, cả hai đều tìm cách định nghĩa lại các chính sách đối nội có thể được cho phép theo một phương thức mà những chương trình đang nổi bật của chính họ có thể được che chắn khỏi mọi thách thức. Trong trường hợp EU những chương trình này bao gồm phát triển nông thôn, trợ cấp về môi trường, các biện pháp an sinh đối với vật nuôi, các chương trình hỗ trợ vùng miền, ở Hoa Kỳ, các chính sách cho phép bao gồm hoạt động bảo tồn, phát triển nông thôn, bảo hiểm về thu nhập, các giải pháp không theo chu kỳ như được thể hiện trong đạo luật nông trại năm 2002. Vào tháng 8-2003 khi các đối tác thương mại đề nghị Hoa Kỳ và EU dàn xếp một cách tiếp cận chung với các cuộc đàm phán thương mại, họ đã có khả năng đáp ứng. Nhưng kết quả là một đề nghị hên tịch đã gặp phải sự phê phán: các quốc gia khác lo sợ rằng bất kỳ sự lơi lỏng nào trong các quy định về hỗ trợ nội địa sẽ cho phép Hoa Kỳ và EU một lần nữa tránh né được những hành động cắt giảm đau đớn trong các chương trình nội địa của mình. Một tuần lễ sau Brazil, Ấn Độ, Nam Phi, Trung Quốc và 16 quốc gia đang phát triển khác đã trình ra bản dự thảo về một khung mẫu các thể thức về nông nghiệp nhằm trả lời cho dự thảo của Hoa Kỳ và EU, trong dó các nước đang phát triển kêu gọi kiềm chế mạnh mẽ hơn nữa các chương trình nông trại quốc nội. Vào tháng 8- 2004, một Hiệp định Khung ra đời trong nỗ lực hòa giải những lập trường khác nhau về vấn đề trợ cấp nội địa.

>> Xem thêm:  Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) là gì ? Cơ cấu, tổ chức của IMO

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)

>> Xem thêm:  Cán cân thương mại là gì ? Khái niệm về cán cân thương mại ?

Câu hỏi về hiệp định thương mại về nông nghiệp ?

Câu hỏi: Mục tiêu của tổ chức thương mại thế giới là gì?

Trả lời:

Cụ thể WTO có 3 mục tiêu sau:

Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường;

Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế, bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới;

Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng.

Câu hỏi: Các chức năng của WTO là gì?

Trả lời:

WTO thực hiện 5 chức năng sau:

Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ.

Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO.

Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên.

Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hoá thương mại và tuân thủ các quy định của WTO, Hiệp định thành lập WTO (Phụ lục 3) đã quy định một cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại áp dụng chung đối với tất cả các thành viên.

Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu.

 

Câu hỏi: Cơ quan nào là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của WTO?

Trả lời:

Hội nghị Bộ trưởng WTO: là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của WTO, họp ít nhất hai năm một lần, thành viên là đại diện cấp Bộ trưởng của tất cả các thành viên. Ðiều IV.1 Hiệp định thành lập WTO quy định Hội nghị Bộ trưởng WTO thực hiện tất cả các chức năng của WTO và có quyền quyết định mọi hành động cần thiết để thực hiện những chức năng đó. Hội nghị Bộ trưởng WTO cũng có quyền quyết định về tất cả các vấn đề trong khuôn khổ bất kỳ một hiệp định đa phương nào của WTO.