- 1. Điều ước quốc tế là gì?
- 2. Khái quát chung về quy định sửa đổi, bổ sung điều ước quốc tế
- 3. Nguyên tắc chung về sửa đổi, bổ sung điều ước quốc tế
- 4. Sửa đổi điều ước quốc tế đa phương theo Điều 40
- 5. Sửa đổi điều ước đa phương giữa một số thành viên theo Điều 41
- 6. Sửa đồi điều ước thông qua thực tiễn sau này
- 6. Pháp luật Việt Nam về sửa đổi điều ước quốc tế
Thưa luật sư, xin luật sư giải đáp giúp tôi những nội dung thắc mắc sau: Theo quy định của Công ước viên năm 1969 việc sử đổi, bổ sung điều ước quốc tế được thực hiện như thế nào? Pháp luật Việt Nam quy định ra sao về nội dung này? Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Mai Loan - Hà Nội
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Cơ sở pháp lý:
- Luật điều ước quốc tế năm 2016
1. Điều ước quốc tế là gì?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật điều ước quốc tế năm 2016: Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác.
2. Khái quát chung về quy định sửa đổi, bổ sung điều ước quốc tế
Việc sửa đổi, bổ sung điều ước quốc tế là một hiện tượng ngày càng phổ biến khi các điều ước quốc tế đa phương được ký kết ngày càng nhiều. Công ước Viên năm 1969 dành ba điều khoản để quy định về sửa đổi và bổ sung điều ước quốc tế: Điều 39 về nguyên tắc chung, Điều 40 về sửa đổi điều ước đa phương và Điều 41 về thỏa thuận bổ sung điều ước đa phương giữa một số bên. Không có quy định riêng cho sửa đổi, bổ sung điều ước song phương, bởi vì hai bên có thể đơn giản đàm phán với nhau. Điều ước đa phương có tính chất phức tạp hơn do đó cần hai điều khoản riêng để điều chỉnh. Hội nghị Viên (1968 – 1969) đã loại bỏ một dự thảo điều khoản mà ILC đệ trình do nhiều ý kiến trái chiều: Sửa đổi điều ước thông qua thực tiễn sau này.
3. Nguyên tắc chung về sửa đổi, bổ sung điều ước quốc tế
Điều 39 quy định “Một điều ước có thể được sửa đổi bằng một thỏa thuận giữa các bên” .
Về nguyên tắc, các điều ước quốc tế chỉ có thể được thay đổi nội dung quy phạm bằng một điều ước quốc tế. Do đó, việc sửa đổi nhất định phải bằng một thỏa thuận ký kết giữa các bên.
Về hình thức, như với điều ước quốc tế nói chung, các bên có thể lựa chọn bất kỳ hình thức nào cho thỏa thuận sửa đổi, bao gồm bằng văn bản, bằng lời nói hay cả bằng thỏa thuận ngầm định. Các bên ở đây có thể bao gồm tất cả các bên là thành viên của điều ước cần sửa đổi, hoặc chỉ giữa một số bên.
4. Sửa đổi điều ước quốc tế đa phương theo Điều 40
Khoản 1 Điều 40 quy định việc sửa đổi điều ước quốc tế đa phương do chính điều ước quốc tế đó quy định. Nhiều điều ước đa phương có quy định dự trù sẵn trường hợp phải sửa đổi, bổ sung điều ước. Ví dụ như Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 quy định về sửa đổi Hiến chương tại Điều 108 và 109; Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 tại Điều 312, 313, và 314; Hiến chương ASEAN năm 2008 tại Điều 48.
Khi không có quy định trong điều ước (ví dụ như trường hợp Công ước Viên 1969 này), thì các quy định ở Điều 40(2), (3), (4) và (5) sẽ được áp dụng. Khoản 2 bảo đảm quyền tham gia vào tiến trình sửa đổi điều ước quốc tế của tất cả các bên thành viên của điều ước cần sửa đổi. Khoản 3 bảo đảm mọi quốc gia là thành viên của điều ước gốc đều có quyền trở thành thành viên của thỏa thuận sau khi được sửa đổi.
Do thỏa thuận sửa đổi điều ước được xem là một điều ước quốc tế, do đó, Khoản 4 quy định về hiệu lực ràng buộc của thỏa thuận sửa đổi. Theo đó, thỏa thuận sửa đổi điều ước sẽ không ràng buộc các quốc gia đang là thành viên của điều ước gốc nếu quốc gia đó không trở thành thành viên của điều ước sửa đổi. Và theo Điều 30(4)(b), giữa quốc gia là thành viên của cả hai điều ước và quốc gia chỉ là thành viên của điều ước gốc, thì điều ước gốc sẽ được áp dụng. Trong khi, Khoản 3 bảo bảo quyền tham gia thỏa thuận sửa đổi, Khoản 4 bảo đảm quyền không tham gia.
Khoản 5 điều chỉnh trường hợp một quốc gia gia nhập vào điều ước sau khi điều ước đã được sửa đổi. Trong trường hợp đó, trừ khi quốc gia gia nhập thể hiện ý định khác, thì mặc nhiên quốc gia đó sẽ là thành viên của điều ước đã được sửa đổi, và đồng thời cũng là thành viên của điều ước gốc trong quan hệ với các quốc gia chỉ là thành viên của điều ước gốc đó. Khoản 5 cho phép các quốc gia lựa chọn gia nhập vào điều ước gốc hay điều ước đã được sửa đổi. Nếu không lựa chọn (không thể hiện ý định khác), thì mặc nhiên được xem là gia nhập vào cả hai điều ước.
5. Sửa đổi điều ước đa phương giữa một số thành viên theo Điều 41
Điều 41 cho phép trong hai trường hợp một hay nhiều bên thành viên của một điều ước đa phương có thể ký kết thỏa thuận riêng để sửa đổi điều ước trong quan hệ giữa các bên này. Điều khác nhau với Điều 40 là: Điều 40 áp dụng cho trường hợp sửa đổi, bổ sung với ý định áp dụng cho tất cả các bên thành viên; còn Điều 41 áp dụng cho trường hợp một số bên sửa đổi, bổ sung với nhau và không có ý định cho các bên khác tham gia và thỏa thuận sửa đổi đó.
Trường hợp thứ nhất là điều ước quốc tế đó cho phép. Ví dụ như Điều 311 của Công ước Luật Biển 1982 cho phép khả năng hay nhiều quốc gia thành viên ký kết thỏa thuận sửa đổi Công ước trong quan hệ giữa các quốc gia đó với nhau. Điều 311 cũng đặt ra các điều kiện để có thể ký kết các thỏa thuận như vậy.
Trường hợp thứ hai là khi điều ước quốc tế không có quy định cấm, nhưng phải kèm theo hai điều kiện:
- Việc sửa đổi không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các bên khác; và
- Không liên quan đến các quy định hay ngoại lệ trái với việc thực thi hiệu quả mục đích và đối tượng của tổng thể điều ước.
6. Sửa đồi điều ước thông qua thực tiễn sau này
Trong dự thảo năm 1966 của ILC đệ trình ra Hội nghị Viên (1968 – 1969), dự thảo Điều 38 quy định về sửa đổi điều ước thông qua thực tiễn sau này (subsequent practice). Theo đề nghị của Phần Lan, Nhật Bản, Venezuela và Việt Nam, Hội nghị Viên quyết định loại bỏ điều này khỏi Công ước, do nhiều ý kiến trái chiều của các quốc gia tham gia Hội nghị. Dự thảo Điều 38 quy định:
“Một điều ước có thể được sửa đổi thông qua thực tiễn sau này khi áp dụng điều ước mà [thực tiễn đó] tạo thành một thỏa thuận của các bên để sửa đổi điều ước.”
Theo ILC, quy định này nhằm bao quát trường hợp các bên sửa đổi điều ước bằng hành vi thực tế của mình theo cách thức mà điều ước không dự kiến trước. Cũng lưu ý rằng, Điều 38 khác với quy định về giải thích điều ước bằng thực tiễn sau này (xem Điều 31(3)(b)). Như vậy, thực tiễn sau này có thể hoặc được xem là giải thích rõ hơn quy định của điều ước hoặc được xem là làm sửa đổi điều ước. Điểm khác biệt là trong trường hợp sửa đổi thì thực tiễn sau này trái ngược với nội hàm quy định của điều ước.
Tại Hội nghị Viên, một loạt phái đoàn đã lên tiếng phản đối dự thảo Điều 38 này, bao gồm phái đoàn Việt Nam. Hội nghị sau đó bỏ phiếu xóa bỏ dự thảo Điều 38 này. Nhìn chung lý do phản đối bao gồm:
- Nguy cơ thừa nhận các bên có quyền thực thi trái với quy định điều ước, và do đó, vi phạm hoặc ít nhất làm suy yếu nguyên tắc thiện chí thực thi điều ước quốc tế pacta sunt servanda. Hơn nữa, như thế sẽ dẫn đến sự mất ổn định trong quan hệ điều ước do cho phép linh hoạt trong thực thi điều ước;
- Cần tính đến quan hệ phức tạp giữa điều ước quốc tế và tập quán quốc tế; Trùng với quy định về giải thích điều ước theo thực tiễn sau này cũng đã đủ để bao quát trường hợp sửa đổi điều ước bằng thực tiễn;
- Ảnh hưởng đến quyền của một quốc gia quyết định có hay không thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc với thỏa thuận sử đổi ngầm thông qua thực tiễn. Dự thảo Điều 38 có thể đặt một quốc gia vào hoàn cảnh phải chấp nhận một thỏa thuận sửa đổi mà nước đó không có cơ hội để từ chối tham gia;
- Gây khó khăn hoặc không khả thi cho quá trình phê chuẩn, phê duyệt trong nội bộ các quốc gia theo quy định của nội luật. Khó có thể phê chuẩn, phê duyệt một thỏa thuận phi-văn bản, ngầm định trong thực tiễn;
- Không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước: Công ước chỉ điều chỉnh điều ước bằng văn bản, trong khi thỏa thuận sửa đổi bằng thực tiễn lại phi-văn bản và mang tính ngầm định.
Phái đoàn Venezuela phát biểu rằng:
“Một thực tiễn trái với quy định của điều ước không thể là cơ sở hình thành một quy định mới, mà cần được xem là một hành vi lạm quyền và vi phạm điều ước. Khi các bên cho rằng hoàn cảnh đã thay đổi thì cần phải tiến hành sửa đổi điều ước bằng việc ký kết một điều ước mới hay một nghị định thư để hợp pháp hóa tình hình mới… Một thực tiễn tự nó không thể là một căn cứ cho phép vi phạm quy định luật thành văn.”
6. Pháp luật Việt Nam về sửa đổi điều ước quốc tế
Tại Điều 54 Luật điều ước quốc tế năm 2016 quy định về sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế. Cụ thể:
Thứ nhất, điều ước quốc tế được sửa đổi, bổ sung, gia hạn theo quy định của điều ước quốc tế đó hoặc theo thỏa thuận giữa bên Việt Nam và bên ký kết nước ngoài.
Thứ hai, thẩm quyền quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế trong trường hợp không ký kết điều ước quốc tế mới để sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế được quy định như sau:
- Quốc hội quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế do Quốc hội phê chuẩn hoặc quyết định gia nhập;
- Chủ tịch nước quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế do Chủ tịch nước phê chuẩn hoặc quyết định gia nhập;
- Chính phủ quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế do Chính phủ quyết định phê duyệt, gia nhập hoặc ký nhưng không phải phê chuẩn, phê duyệt.
Thứ ba, văn bản quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế bao gồm các nội dung sau đây:
- Tên của điều ước quốc tế được sửa đổi, bổ sung, gia hạn; thời gian, địa điểm ký và thời điểm có hiệu lực;
- Nội dung sửa đổi, bổ sung, thời gian gia hạn điều ước quốc tế;
- Trách nhiệm của cơ quan đề xuất, Bộ Ngoại giao và cơ quan, tổ chức có liên quan.
Thứ tư, trình tự, thủ tục quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế được thực hiện như sau:
- Cơ quan đề xuất có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan trước khi trình Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế;
- Chính phủ quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế quy định tại điểm c khoản 3 Điều này; trình Chủ tịch nước quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
- Chủ tịch nước quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế quy định tại điểm b khoản 3 Điều này; trình Quốc hội quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
- Quốc hội quyết định sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế quy định tại điểm a khoản 3 Điều này theo trình tự, thủ tục tương tự trình tự, thủ tục phê chuẩn điều ước quốc tế quy định tại các điều 32, 33, 34, 35 và 36 của Luật này.
Thứ năm, hồ sơ trình về việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế trong trường hợp không ký kết điều ước quốc tế mới để sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế bao gồm:
- Tờ trình của cơ quan trình, trong đó nêu rõ mục đích, yêu cầu, cơ sở pháp lý và hậu quả pháp lý của việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế;
- Ý kiến của Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức; kiến nghị biện pháp xử lý;
- Văn bản điều ước quốc tế;
- Đề nghị về việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn điều ước quốc tế của bên ký kết nước ngoài hoặc cơ quan nhà nước có liên quan của Việt Nam.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "sửa đổi bổ sung điều ước quốc tế theo quy định Công ước viên năm 1969". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập