một bản tham luận về "Vai trò, tầm quan trọng của luật sở hữu trí tuệ trong xã hội hiện đại" - Đại lý là lý giải tại sao trong xã hội hiện đại thì quyền sở hữu trí tuệ lại ngày càng được coi trọng, được xem trọng và giá trị của nó trong bối cảnh hiện nay. Tôi biết chủ đề này không quá liên quan đến luật nhưng nếu được thì mong Luật Minh Khuê gợi ý một vài điểm chính hoặc giải thích giúp tôi tổng quan về các khái niệm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung để tôi dễ tìm hiểu, tìm kiếm tài liệu cho bản tham luận này.

Cảm ơn luật sư rất nhiều & mong nhận được phản hồi từ Quý công ty!

Người hỏi: Nguyễn Hải An (Sinh viên ĐH Ngoại Thương).

 

Luật sư tư vấn:

Cảm ơn bạn, vấn đề bạn quan tâm cũng khá thú vị  - Dưới góc nhìn pháp lý xin được chia sẻ như sau:

 

1. Phân tích vai trò của luật sở hữu trí tuệ trong xã hội hiện đại ?

Trong xã hội hiện đại, pháp luật không những quan tâm đến việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản hữu hình, mà còn chú trọng đến việc bảo vệ quyền đối với các sản phẩm trí tuệ. Tài sản trí tuệ ngày càng được coi trọng không những trong phạm vi của một quốc gia, mà còn được bảo vệ trên phạm vi thế giới. Tài sản trí tuệ là tài sản vô hình, nhưng được vật chất hóa khi áp dụng vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo ra sản phẩm, thay đổi công nghệ và mang lại những giá trị kinh tế, giá trị xã hội rất lớn. Khi áp dụng các sản phẩm sáng tạo trí tuệ vào sản xuất, kinh doanh tạo ra những sản phẩm phong phú, đa dạng chứa đựng hàm lượng trí tuệ cao, tiện ích khi sử dụng. Sản phẩm trí tuệ được tôn trọng bảo vệ mở ra những điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế, thương mại giữa các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế và hình thức sở hữu khác nhau trong nước và hội nhập quốc tế.

Lịch sử về sở hữu tài sản đã có từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, có nhà nước và có pháp luật. Những tài sản về vật chất và sở hữu những tài sản này đã là nguyên nhân phát sinh ra những mâu thuẫn giữa các giai tầng xã hội và các cuộc chiến tranh nhằm chiếm lĩnh tài sản giữa các khu vực của các tập đoàn và giữa các quốc gia.

Trong một nhà nước có tư hữu, có pháp luật thì vấn đề sở hữu tài sản luôn luôn được điều chỉnh bằng pháp luật mang bản chất giai cấp. Những tranh chấp về đất đai, tài sản khác như các công trình xây dựng, nhà cửa, vật nuôi, cây trồng, các tư liệu sản xuất và tự liệu tiêu dùng khác luôn luôn phát sinh trong xã hội. Xác định giữa người giàu và người nghèo luôn luôn được dựa trên tiêu chí sở hữu tài sản là vật chất. Những tranh chấp về tài sản giữa cá nhân với cá nhân, giữa tổ chức, cá nhân và giữa tổ chức với tổ chức luôn diễn ra trong xã hội và toà án đã giải quyết những tranh chấp về tài sản, về hợp đồng có đối tượng là tài sản với số lượng ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước.

Nhưng khi nền sản xuất công nghiệp phát triển cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, thì một loại tài sản khác được tạo ra và được chú trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội là quyền sở hữu các sản phẩm sáng tạo dưới dạng các giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất tạo ra những vật chất, hàng hóa có hàm lượng trí tuệ cao, đa dạng về chủng loại và tinh tế, tiện ích cho việc sử dụng; đời sống tinh thần và vật chất của con người trong xã hội được nâng cao về chất lượng. Các sản phẩm trí tuệ được tạo ra dưới dạng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và những giải pháp hữu ích khác được áp dụng vào sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ đã nâng tầm vóc của con người về nhận thức thế giới khách quan và có ý thức chủ động trong cải cách tổ chức sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra nhiều hàng hóa, tài sản theo đó đời sống của con người ngày càng được cải thiện đáng kể.

Với nhận thức về tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ, các quỗc gia trên thế giới đã có Luật Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và Việt Nam cũng luôn luôn quan tâm và có Luật Sở hữu trí tuệ bảo hộ các sản phẩm sáng tạo trí tuệ.

Sở hữu trí tuệ được coi trọng, bảo hộ nhằm thúc đẩy các hoạt động sáng tạo của các chủ thể trong xã hội với mục đích đổi mới công nghệ và khuyến khích sản xuất phát triển, đồng thời khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ giữa các chủ thể thuộc các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội được bình đẳng phát triển. Khuyến khích, các chủ thể xã hội tạo ra các sản phẩm mới và những phương pháp sản xuất mới, các thiết bị kỹ thuật mới; tạo ra các giải pháp kỹ thuật tân tiến nhằm nâng cao năng suất lao động, giải phóng lao động cơ bắp cho con người; tạo ra hàng hóa sản phẩm với chất lượng tốt, kiểu dáng đẹp và những nhãn hiệu danh tiếng trong xã hội.

Với những cơ sở pháp lý và theo đó quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ bằng pháp luật, đã khuyến khích các hoạt động đầu tư, khuyến khích sử dụng công nghệ mới và chuyển giao công nghệ mới.

Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam được quy định và ngày càng được bổ sung hoàn thiện phù hợp với nền sản xuất theo cơ chế thị trường, bình đẳng giữa các chủ thể thuộc các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế khác nhau nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và nâng cao mức sống, chất lượng sống của cá nhân, gia đình. Hơn nữa, ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo là các chủ trương khuyến khích thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển bình đẳng với thành phần kinh tế nhà nước. Khuyến khích đầu tư phát triển, do vậy vai trò của Luật Sở hữu trí tuệ rất quan trọng trong việc tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, hàm lượng trí tuệ lớn, bảo đảm chất lượng hàng hóa có thể cạnh tranh trên thị trường trong nước và trên thị trường quốc tế.

 

2. Sản phẩm của sự sáng tạo của trí tuệ là gì ? 

Kết quả của sáng tạo trí tuệ là sản phẩm khác biệt so với tài sản hữu hình như động sản và bất động sản. Sản phẩm trí tuệ là kết quả của lao động, hoạt động trí tuệ tạo ra. Hàm lượng trí tuệ trong các sản phẩm sáng tạo trí tuệ phản ánh tư duy sáng tạo của con người. Các ý tưởng sáng tạo trí tuệ được thể hiện bằng kết quả tồn tại khách quan.

Căn cứ vào sự biểu hiện khách quan của các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, sản phẩm sáng tạo trí tuệ được phân loại gồm các sản phẩm sáng tạo được áp dụng vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu... Những sản phẩm này là những giải pháp kỹ thuật và là tác nhân thay đổi công nghệ trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của con người.

Loại sản phẩm sáng tạo trí tuệ được thể hiện dưới hình thức nhất định, được định hình là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, phần mềm máy tính...

Như vậy, quyền đối với tài sản này được xác định và được định giá bằng tiền.

Quyền sở hữu các sản phẩm trí tuệ là quyền tài sản. Theo Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới năm 1967 (WIPO), sở hữu trí tuệ bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ thể đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ, các bản ghi âm, chương trình phát thanh, truyền hình, các loại sáng chế, các phát minh khoa học, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, nhãn hiệu dịch vụ, chỉ dẫn thương mại, tên thương mại và các quyền bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Theo Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), quyền sở hữu trí tuệ được mở rộng bao gồm quyền đối với giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật thương mại và thông tin bí mật, nghệ thuật thể hiện truyền thống dân gian.

Quyền sở hữu trí tuệ còn được xác định đối với các khía cạnh liên quan đến thương mại. Những quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS - Hiệp định TRIPS ký ngày 15 tháng 4 năm 1994 (có hiệu lực từ ngày 01/01/1995). Hiệp định TRIPS gồm 7 Phần với 73 điều. Nội dung Hiệp định có những quy định về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.), như quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, thông tin bí mật (bí mật thương mại).

 

3. Phân loại sản phẩm thuộc quyền sở hữu trí tuệ

Dựa trên các đặc điểm có thể phân thành 3 loại (ba đối tượng) sau:

+ Quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, phần mềm máy tính và các quyền liên quan đến quyền tác giả;

+ Quyền sở hữu công nghiệp là quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

+ Quyền đối với giống cây trồng như: Chọn giống, tạo giống, phát hiện và nhân giống mới.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vự sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng phục vụ bạn./.