1.Khả năng công nhận và cho thi hành của phán quyết trọng tài thương mại quốc tế

Vào giai đoạn công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài thương mại quốc tế được đặt ra, nguyên tắc thoả thuận trọng tài được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn được sử dụng khá phổ biến trong pháp luật các nước cũng như các quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế. Về nguyên tắc, điều khoản trọng tài độc lập với phần còn lại của hợp đồng. Điều này được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Do đó, các bên có quyền thoả thuận một luật riêng để điều chỉnh điều khoản trọng tài mà không phải dựa vào luật điều chỉnh nội dung hợp đồng. Nếu muốn một luật riêng như vậy, họ cần thoả thuận rõ về việc áp dụng luật đó trong hợp đồng hoặc một văn bản riêng. Tuy nhiên trên thực tế, hiếm khi các bên thoả thuận áp dụng luật riêng cho thoả thuận trọng tài mà mặc nhiên sử dụng ngay luật điều chỉnh nội dung hợp đồng (thường được thoả thuận dưới dạng một điều khoản hợp đồng).

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận như vậy, nhiều hệ thống pháp luật thừa nhận nguyên tắc luật của quốc gia nơi phán quyết trọng tài được tuyên sẽ thay thế. Nguyên tắc này được tìm thấy gián tiếp qua các quy định về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài trong các luật trọng tài trên thế giới.

2. Ví dụ về khả năng công nhận và cho thi hành của phán quyết trọng tài thương mại quốc tế

– Khoản 1 điều 54 Luật Trọng tài Thuỵ Điển 1999 quy định: “Phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành ở Thuỵ Điển nếu bên bị chống lại quyền lợi chứng minh được rằng… thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu họ không đạt được thoả thuận như vậy, theo luật của nước phán quyết trọng tài được tuyên”.

– Khoản II điều 38 Luật Trọng tài Brazil quy định: “… phán quyết trọng tài nước ngoài có thể bị từ chối công nhận và thi hành nếu bị đơn chứng minh được rằng thoả thuận trọng tài không có hiệu lực theo luật của nước mà các bên đã chọn, nếu thiếu điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên”.

– Nội dung tương tự cũng được ghi nhận tại điều 103(2)(b) Luật Trọng tài Anh 1996: “Công nhận và thi hành phán quyết trọng tài có thể bị từ chối nếu bị đơn chứng minh được rằng, thoả thuận trọng tài không hợp pháp theo luật của nước các bên đã chấp thuận nó, nếu không có điều này, theo luật của nước nơi phán quyết trọng tài được tuyên.”

Theo điều 34(2)(a)(i) Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế 1985 của UNCITRAL: “Một quyết định chỉ có thể bị toà án theo quy định tại Điều 6 huỷ trong trường hợp… thoả thuận nói trên không có giá trị pháp lý theo luật mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo luật của quốc gia nơi quyết định được tuyên trong trường hợp mà các bên không ghi rõ”. Nội dung tương tự cũng được thể hiện tại điều V Công ước NewYork 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài: “Việc công nhận và thi hành quyết định có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu, bằng chứng rằng: Các bên của thỏa thuận nói ở điều II, theo luật áp dụng đối với các bên, không có đủ năng lực, hoặc thoả thuận nói trên không có giá trị theo luật mà các bên chịu sự điều chỉnh, nếu không có chỉ dẫn về điều này, theo luật của Quốc gia nơi ra quyết định”.

3. Thẩm quyển xét xử của trọng tài

Theo pháp luật và thực tiễn trọng tài của các nước, Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên đương sự thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Thoả thuận đưa tranh chấp ra trọng tài để giải quyết là quyền tự do của các đương sự. Nếu các đương sự không thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì tranh chấp phải được giải quyết bằng Toà án. Đây là vấn đề hiện nay đã có ý kiến hoàn toàn thống nhất trong giới luật gia ở tất cả các nưốc trên thế giới.

Trong thực tiễn quốc tế, cũng có trường hợp các quốc gia ký kết với nhau các điều ước quốc tế 'để quy định các bên đương sự chỉ được giải quyết trành chấp bằng Trọng tài. Ví dụ, điều kiện chung giao hàng năm 1968 và Công ước năm 1972 của các nưốc xã hội chủ nghĩa là thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) về vấn đề trọng tài quy định các tranh chấp giữa các tổ chức của các nước này trong hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ phải được giải quyết tại cơ quan trọng tài bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp của nước bên bị đơn mang quốc tịch hoặc tại cơ quan trọng tài của nước thứ ba đo các bên đương sự thoả thuận. Đến nay các văn kiện này không còn hiệu lực.

Nhìn chung, tuy trọng tài là biện pháp được các nhà kinh doanh rất ưa dùng để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, nhưng không nên quy định buộc họ phải giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mà phải để cho họ quyền hoàn toàn tự do lựa chọn trọng tài hoặc toà án thì mới phù hợp với nguyên tắc tự do hợp đồng và tự do kinh doanh.

Cần phải tôn trọng quyền của các đương sự lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, nhưng việc thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải được thực hiện trong khuôn khổ do pháp luật quốc gia hoặc điều ước quốc tế mà quốc gia ký kết hoặc .tham gia quy định. Pháp luật các nưốc đều có quy định về vấn đề này. Ví dụ, Điều 2 của Luật Trọng tài năm 1994 của Trung Quốc quy định “Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc quyền sỏ hữu giữa các công dân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác trên cơ sở bình đẳng có thể được giải quyết bằng trọng tài”. Nói cách khác, trong phạm vi quy định này, các bên đương sự hoàn toàn có quyền thoả thuận đưa tranh chấp ra Trọng tài để giải quyết. Điều 5 của luật này còn khẳng định “Nếu các bên đã ký kết thoả thuận trọng tài và một bên khỏi kiện tại Toà án nhân dân thì Toà án nhân dân không thụ lý vụ kiện, trừ khi thoả thuận trọng tài đó bị vô hiệu”.

Ở nước ta, theo quy định của Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế năm 1989 ( Điều 38 và Điều 39) và Pháp lệnh về Trọng tài kinh tế năm 1990 (Điều 1), các tranh chấp về hợp đồng kinh tế đều do Trọng tầi kinh tế Nhà nước giải quyết khi có đơn yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, kể cả trường hợp hợp đồng kinh tế mà một bên tham gia là pháp nhân Việt Nam, còn bên kia là cá nhân, tổ chức nước ngoài, hoặc cả hai bên đều là tổ chức, cá nhân nước ngoài. Điều đó có nghĩa là các tranh chấp vê' hợp đồng kinh tế không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, các bên đương sự không cần phải thoả thuận chọn Trọng tài hay Toà án, vì các tranh chấp hợp đồng kinh tế chỉ do Trọng tài kinh tế Nhà nước giải quyết, chỉ cần một bên đương sự có đơn yêu cầu là Trọng tài kinh tế Nhà nước tiến hành giải quyết tranh chấp.

4.Trung tâm trọng tài quốc tê Việt Nam

Riêng Trung tâm trọng tài quốc tê Việt Nam mà tiền thân của nó là các Hội đồng trọng tài thương mại và Hội đồng trọng tài hàng hải bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi có sự thoả thuận của các bên đương sự đưa tranh chấp ra trọng tài để giải quyết. Phạm vi tranh chấp mà các bên đương sự được phép thoả thuận để đưa ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam được quy định tại Điều 2 Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Trung tầm Trọng tài quốc tế Việt Nam như sau: “Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế quốc tế như các hợp đồng thương mại, các hợp đồng đầu tư, du lịch, vận tải và bảo hiểm quốc tế, chuyển giao công nghệ, tín dụng và thanh toán quốc tế v.v..”. Ngày 16-2-1996 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 114/TTg cho phép Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam giải quyết cả các tranh chấp kinh tế phát sinh từ những quan hệ kinh doanh trong nước, nếu các bên đương sự thoả thuận đưa ra Trung tâm này để giải quyết.

Theo Nghị định 116/CP ngày 5-9-1994 vế tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế (khoản 2 Điều 3), “Trung tâm Trọng tài kinh tế chỉ nhận đơn yêu cầu giải quyết các tranh chấp kinh tế được quy định tại Điều 1 của Nghị định này, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đã có thoả thuận bằng văn bản về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại chính Trung tâm Trọng tài kinh tế đó”.

Như vậy, sau khi giải thể hệ thống Trọng tài kinh tế Nhà nước và thành lập các trung tâm Trọng tài kinh tế theo Nghị định số 116/CP-ngày 5-9-1994 của Chính phủ, thì Việt Nam đã hoàn toàn đi theo thông lệ chung của các nước trên thế giới - trong mọi trường hợp, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi có sự thoả thuận của các bên đương sự đưa tranh chấp ra trọng tài để giải quyết.

Vấn đề thoả thuận chọn Trọng tài để giải quyết tranh chấp còn được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam. Ví dụ: Điều 241 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 1990 quy định: các bên hợp đồng có thể thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài hoặc khởi kiện trước Toà án; Điều 109 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991 quy định: các tranh chấp trong hoạt động hàng không dân dụng có thể được giải quyết bằng thương lượng, hoà giải hoặc đưa ra giải quyết trước trọng tài hoặc khỏi kiện trước toà án theo thẩm quyền, thủ tục do pháp luật quy định; Điều 24 của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 khẳng định các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc giữa các bên liên doanh cũng như, các tranh chấp giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp Việt Nam trưốc hết phải được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải; trong trường hợp các bên không hoà giải được thì vụ tranh chấp được đưa ra giải quyết tại tổ chức Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam theo pháp luật Việt Nam; đối với các tranh chấp giữa các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên có thể thoả thuận trong hợp đồng việc lựa chọn một tổ chức trọng tài khác để giải quyết tranh chấp. Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 cũng quy định trong trường hợp tranh chấp thương mại không hoà giải được thì giải quyết tại trọng tài hoặc toà án; các tranh chấp với thương nhân nước ngoài nếu không có thoả thuận hoặc điều ước quốc tế không quy định thì tranh chấp được giải quyết tại Toà án Việt Nam ; nhiều văn bản khác của pháp luật Việt Nam cũng có quy định tương tự.

5.Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong nhiều trường hợp

Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong nhiều trường hợp do điều ưốc quốc tê quy định. Ví dụ: Điều 16 Hiệp định buôn bán và hàng hải Việt Nam - Liên Xô năm 1958 (hiện nay được nưốc Nga kế thừa) quy định rằng, các bên đương sự được phép thoả thuận chọn trọng tài; các hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam với các nưốc cũng có quy định tương tự; Hiệp định Việt Nam - Bungari về thành lập và hoạt động của các xí nghiệp liên doanh quy định: trước hết phải giải quyết thông qua con đường đàm phán và thoả thuận; nếu các bên không thoả thuận được với nhau, thì tranh chấp đó sẽ được đưa ra xét xử tại Hội đồng trọng tài bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp của nước sở tại hoặc một Hội đồng trọng tài khác do hai bên thoả thuận; các tranh chấp phát sinh giữa các xí nghiệp liên doanh với các tô’ chức kinh tế khác cũng được xử lý như đôì với các xí nghiệp liên doanh khác của nước sở tại.

Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (khoản 2 của Điều 7) cũng khẳng định các bên khuyến khích việc sử dụng Trọng tài để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch thương mại được ký kết giữa các công dân và công ty của Việt Nam và các công dân và công ty của Hoa Kỳ; việc giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài như vậy có thể được quy định bằng các thoả thuận trong các hợp đồng giữa các công đân và công ty đó hoặc bằng văn bản thoả thuận riêng rẽ giữa họ.

Vấn đề trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên đương sự thoả thuận đưa tranh chấp ra trọng tài để giải quyết đều được quy định rõ ràng trong điều lệ tổ chức và hoạt động của tất cả các tổ chức trọng tài quy chế ở tất cả các nưóc trên thế giới, bao gồm cả các tổ chức trọng tài ở Việt Nam. Ví dụ, khoản 2 Điều 3 của Điều lệ tổ chức và hoạt động và khoản 2 Điều 3 của bản Quy tắc tô" tụng của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam quy định rằng Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp, nếu trước hay sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đương sự ; thoả thuận đưa vụ việc ra trước Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, hoặc nếu có một điều ưốc quốc tế ràng buộc các bên phải đưa vụ tranh chấp ra trước Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam. Điều lệ và quy tắc tô" tụng của các trung tâm Trọng tài kinh tế ỏ các tỉnh, thành phô" trực thuộc Trung ương của Việt Nam cũng có các quy định tương tự.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)