Khách hàng: Kính chào luật sư! Tôi là bị đơn trong một vụ án dân sự tranh chấp chia di sản thừa kế. Tôi xin trình bày với Luật sư cụ thể nội dung như sau: Bố tôi có để lại cho tôi một miếng đất từ xưa các cụ để lại. Tôi là con gái út của gia đình có ban chị em gái, các chị tôi đều trưởng thành và đi lấy chồng hết. Tôi vẫn tiếp tục ở với bố mẹ cho đến khi tôi lấy chồng năm 25 tuổi và tôi không muốn đi ở nhà chồng vì thương bố mẹ tuổi già sức yếu nên tôi bàn với bố mẹ là cho chồng tôi về ở rể để tiện chăm sóc cho bố mẹ về già. Gia đình tôi sống rất hòa thuận, hạnh phúc và hầu như không có mâu thuẫn gì, có chăng cũng chỉ là chuyện nhỏ trong việc dạy bảo các con tôi. Khi mẹ tôi mất thì không có tranh chấp gì về tài sản, hai năm sau khi mẹ tôi mất lúc đấy bố tôi mới được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất. Rồi bố tôi cũng già và bệnh rồi mất đi, Bố tôi có để lại di chúc là để lại toàn bộ số diện tích đất cho vợ chồng tôi. Di chúc được nhiều người trong dòng họ ký và cả chính quyền ký, đóng dấu đỏ.

Hai năm trở lại đây do khu tôi có dự án sân bay nên chúng tôi phải di dời đi và nhận bồi thường theo khung giá đất của nhà nước. Thấy vậy hai chị gái của tôi yêu cầu chia di sản của bố tôi để lại theo pháp luật, Vợ chồng tôi không muốn gia đình lại mất lòng nhau vì chuyện này nên chúng tôi chấp nhận chia cho các chị. Nhưng các chị nghe con cháu rồi cứ đòi ngày càng tăng lên, thậm chí là gây áp lực cho gia đình chúng tôi. Nên chúng tôi không đồng ý chia nữa mà muốn dựa theo ý nguyện của bố để lại như trong di chúc.

Hai chị của tôi nghe các con xui khiến nên khởi kiện tôi để chia di sản. Tại phiên Tòa bên nguyên đơn không đưa ra được căn cứ pháp lý nào mà chỉ đòi chia, rồi nói không chấp nhận di chúc mà không có căn cứ nào. Phiên tòa xử thắng kiện cho bên nguyên đơn, tôi rất bức xúc với cách giải quyết của Tòa quận. Tôi muốn kháng cáo nhưng thư ký Tòa bảo tôi phải 10 ngày mới có bản án.

Vậy tôi hỏi luật sư là tôi không có bản án có kháng cáo được không? Vì đợi 10 ngày sau thì tôi sợ muộn thời hạn kháng cáo. Xin luật sư tư vấn cho tôi là thời hạn 10 ngày có đúng với quy định pháp luật và tôi không có bản án có kháng cáo được không.

Cảm ơn!

 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý cần được sử dụng trong bài viết:

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Từ những thông tin mà bạn chia sẻ luật sư nhận thấy kết quả phiên tòa còn có nhiều uẩn khúc vậy nên bạn hoàn toàn có quyền kháng cáo như mong muốn của bạn. Người có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tại Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

 

1. Kháng cáo

Kháng cáo là quyền của đương sự và những chủ thể khác được pháp luật quy định trong trường hợp không đồng ý với phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm thì sẽ có quyền nộp đơn kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tòa án ra bản án.

Do đối tượng điều chỉnh và phạm vi điều chỉnh khác nhau nên chủ thể có quyền kháng cáo trong lĩnh vực dân sự và hình sự cũng khác nhau.

Trong dân sự thì Luật Tố tụng dân sự có quy định về đương sự, người đại diện theo pháp luật của đương sự, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp khởi kiện thì sẽ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm.

Quyền kháng cáo chỉ được thực hiện đối với trường hợp các bản án, quyết định chưa có hiệu lực thi hành, thường thì trong 15 ngày kể từ ngày tòa án cấp sơ thẩm ra bản án thì đương sự hoặc những chủ thể khác theo quy định có quyền kháng cáo.

Đối với trường hợp kháng cáo quyết định tạm định chỉ hoặc đình chỉ vụ án cấp sơ thẩm thì thời hạn kháng cáo rút ngắn còn 7 ngày kể từ ngày chủ thể nhận được quyết định của Tòa.

Tuy nhiên trong một số trường hợp quá thời hạn kháng cáo mà vì lý do chính đáng thì đơn kháng cáo vẫn sẽ được chấp nhận.

2. Chủ thể có quyền kháng cáo

 Quy định tại Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

"Điều 271. Người có quyền kháng cáo

Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm."

=> Việc kháng cáo không bắt buộc phải có bản án của tòa mà chỉ cần biết kết quả phiên tòa là có thể làm đơn kháng cáo được. Vậy nên bạn cũng không cần quan tâm đến khi nào mới có bản án, còn quy định pháp luật về việc cấp bản án cho đương sự căn cứ theo Điều 269 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là 10 ngày.

 

3. Thời hạn kháng cáo

Theo Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định thì:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Theo quy định pháp luật, những đối tượng sau đây sau khi nhận được bản án sơ thẩm có quyền nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, trường hợp đương sự không có mặt tại phiên tòa thì được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết:

Đương sự, người đại diện hợp pháp của họ

Cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

 

4. Thủ tục kháng cáo

Theo Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về thủ tục kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm như sau:

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ kháng cáo. Hồ sơ kháng cáo bản án sơ thẩm gồm những giấy tờ sau:

Đơn kháng cáo. Đơn kháng cáp phải có các nội dung chính sau đây:

+ Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

+ Tên, địa chỉ của người kháng cáo;

+ Kháng cáo phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

+ Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;

+ Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

Các tài liệu, chứng cứ bổ sung, nếu có để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Bước 2: Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự nộp đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm. Nếu đơn kháng cáo gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết và gửi kèm hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.

Bước 3: Tòa án nhân dân xét xử sơ thẩm kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo. Sau đó gửi đơn thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

Bước 4: Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo kèm theo bản sao đơn kháng cáo, tài liệu, chứng cứ bổ sung mà người kháng cáo gửi kèm đơn kháng cáo. Đương sự có liên quan đến kháng cáo được thông báo về việc kháng cáo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.

Bước 5: Tòa án nhân dân xét xử sơ thẩm nộp đơn kháng cáo và toàn bộ hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân xét xử phúc thẩm để được giải quyết.

 

5. Cấp trích lục bản án, giao, gửi bản án

 Cơ sở pháp lý: Theo Điều 269 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

"Điều 269. Cấp trích lục bản án; giao, gửi bản án.

1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án.

2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.

3. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và công bố công khai trên một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương trong ba số liên tiếp.

Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải được Tòa án cấp sơ thẩm gửi cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bồi thường nhà nước.

Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án cho Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật hộ tịch.

Thời hạn niêm yết, công bố, gửi bản án, thông báo quy định tại khoản này là 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

4. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ bản án, quyết định của Tòa án có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này."

=> Kết luận: Vậy nên bạn hoàn toàn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật, còn nội dung của đơn kháng cáo thì không cần có số bản án mà chỉ cần có thời gian, địa điểm cũng như nội dung sự việc là được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết.

 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê