1. Giới thiệu Hiệp định về các biện pháp tự vệ

Hiệp định về Tự vệ (tiếng Anh: Agreement on Safeguards), còn gọi là Hiệp định SG (SG Agreement) là một trong những hiệp định của Tổ chức thương mai thế giới (WTO), được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay. Hiệp định cho phép thành viên WTO áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu khi sự tăng đột biến của nhập khẩu một mặt hàng gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước.

Hiệp định là một bước đột phá mới trong việc hình thành một lệnh cấm đối với các biện pháp “vùng xám”, và đưa ra “điều khoản hoàng hôn” đối với các hành động tự vệ. Hiệp định quy định rằng một thành viên sẽ không yêu cầu, áp dụng hoặc duy trì bất kỳ hạn chế xuất khẩu tự nguyện, thỏa thuận phân chia thị trường, hoặc bất kỳ biện pháp tương tự nào khác đối với việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Bất cứ biện pháp nào như vậy có hiệu lực tại vào thời điểm thông qua Hiệp định này phải được thực hiện phù hợp với Hiệp định hoặc từng bước loại bỏ trong vòng 4 năm sau khi hiệp định WTO có hiệu lực. Một ngoại lệ đối với một biện pháp cụ thể áp dụng với mỗi thành viên nhập khẩu, tùy thuộc vào thỏa thuân chung với thành viên có liên quan trực tiếp và thời gian thực hiện sẽ là ngày 31 tháng 12 năm 1999.

Tất cả các biện pháp tự vệ áp dụng theo quy định tại Điều XIX GATT 1947 sẽ phải chấm dứt không muộn hơn 8 năm sau khi áp dụng lần đầu tiên hoặc 5 năm sau ngày hiệp định WTO có hiệu lực, tùy thuộc hiệp định nào đến sau.

Hiệp định đặt ra những yêu cầu đối với việc điều tra tự về, bao gồm việc thông báo công khai các phiên thẩm vấn và các biện pháp thích hợp để các bên có liên quan có thể đưa chứng cứ, bao gồm cả việc xem xét xem việc áp dụng biện pháp này có phù hợp với lợi ích chung không. Trong trường hợp khẩn cấp có thể áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời dựa trên phán quyết sơ bộ về tổn hại nghiêm trọng. Thời gian áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời sẽ không được vượt quá 200 ngày.

Hiệp định đưa ra các tiêu chí xác định ”tổn hại nghiêm trọng” và những nhân tố cần được xem xét khi quyết định ảnh hưởng của nhập khẩu. Biện pháp tự vệ sẽ chỉ được áp dụng trong chừng mực cần thiết để ngăn chặn hay khắc phục tổn hại nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh. Nếu biện pháp hạn chế định lượng được áp dụng, thì những biện pháp này sẽ không làm giảm số lượng nhập khẩu dới mức nhập khẩu bình quân của 3 năm đại diện gần nhất có số liệu thống kê trừ khi có chứng cứ rõ ràng rằng cần có một mức khác để ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng.

Về nguyên tắc, những biện pháp tự vệ được áp dụng bất kể từ nguồn nào. Trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuất khẩu, thành viên áp dụng hạn chế này có thể thỏa thuận với các thành viên khác, các thành viên có lợi ích thiết thực đối với việc cung cấp sản phẩm có liên quan. Thông thường, việc phân bổ hạn ngạch dựa trên cơ sở phần trăm của tổng số lượng hoặc giá trị sản phẩm nhập khẩu trong kỳ đại diện trước. Tuy nhiên, trong quá trình tham vấn dưới sự giám sát của Ủy ban về các biện pháp tự vệ, nước nhập khẩu có thể không thực hiện quy định này nếu nước đó chứng minh được rằng nhập khẩu từ một số Thành viên xác định gia tăng với một tỷ lệ không tương ứng với gia tăng tổng kim ngạch nhập khẩu và việc không thực hiện các quy định này là hợp lý và công bằng đối với tất cả các nước xuất khẩu. Thời gian áp dụng biện pháp tự vệ trong trường hợp này không được vượt quá 4 năm.

Hiệp định đề xuất sử dụng tham vấn đối với việc bồi thường cho các biện pháp tự vệ. Nếu tham vấn không thành công, các bên bị ảnh hưởng phải thu hồi lại các ưu đãi tương đương hoặc các nghĩa vụ khác quy định trong GATT 1994. Tuy nhiên, phương án này sẽ không được phép áp dụng trong 3 năm đầu áp dụng biện pháp tự vệ nếu biện pháp tự vệ này tuân thủ đúng các điều khoản của hiệp định và được áp dụng trong trường hợp có sự gia tăng nhập khẩu tuyệt đối.

Các biện pháp tự vệ sẽ không được áp dụng đối với sản phẩm có xuất xứ từ các nước thành viên đang phát triển nếu thị phần sản phẩm liên quan không vượt quá 3%, và với điều kiện là tổng thị phần nhập khẩu từ các Thành viên đang phát triển có thị phần nhập khẩu riêng lẻ nhỏ hơn 3% không vượt quá 9% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm liên quan. Một nước thành viên đang phát triển có quyền kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ trong thời hạn không quá 2 năm sau khi hết thời hạn tối đa bình thường. Một nước thành viên đang phát triển cũng có thể áp dụng lại một biện pháp tự vệ đối với một sản phẩm đã từng bị áp dụng biện pháp này trước đó sau thời gian bằng một nửa thời gian mà biện pháp này được áp dụng trước đây, với điều kiện là thời gian không áp dụng ít nhất là 2 năm.

Hiệp định này sẽ thành lập nên một Ủy ban về các biện pháp tự vệ có nhiệm vụ giám sát việc thực thi các điều khoản của hiệp định và chịu trách nhiệm giám sát việc thực thi các cam kết.

2. Điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ

Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời của các điều kiện sau:

- Hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng;

- Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hoá đó bị thiệt hại hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng; và

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại nói trên.

Điều kiện chung: Việc tăng đột biến lượng nhập khẩu gây thiệt hại nói trên phải là hiện tượng mà nước nhập khẩu không thể lường trước được khi đưa ra cam kết trong khuôn khổ WTO.

Song song với các điều kiện chung này, một số nước khi gia nhập WTO phải đưa ra những cam kết riêng liên quan đến biện pháp tự vệ. Trường hợp của Việt Nam, không có ràng buộc hay bảo lưu nào lớn về các biện pháp tự vệ này, do đó việc áp dụng biện pháp tự vệ ở Việt Nam đối với hàng hóa nước ngoài, nếu có, sẽ tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO về vấn đề này.

Ví dụ: Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá Trung Quốc đến hết năm 2014

Để áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá Trung Quốc, nước nhập khẩu cần chứng minh sự tồn tại đồng thời của các điều kiện:

  • Hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc tăng về số lượng;
  • Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu phải chịu hoặc bị đe doạ đổ vỡ thị trường (market disruption); và
  • Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu từ Trung Quốc tăng và sự đổ vỡ thị trường nói trên.

Trường hợp một nước thành viên WTO đã áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá Trung Quốc theo cách thức như trên, các nước thành viên khác cũng có thể hạn chế nhập khẩu hàng hoá có xuất xứ từ Trung Quốc đó nếu chứng minh rằng biện pháp tự vệ của nước thành viên nói trên gây ra hoặc đe doạ gây ra những biến động mạnh đến luồng thương mại vào thị trường nội địa của mình.

3. Các biện pháp tự vệ

Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng ở mức vừa đủ để ngăn chặn thiệt hại và giúp ngành sản xuất trong nước có thời gian tự điều chỉnh. Các biện pháp tự vệ có thể áp dụng dưới hình thức một khoản thuế nhập khẩu bổ sung, hạn ngạch, hạn nhạch thuế quan,giấy phép nhập khẩu, hay phụ thu. Thời hạn áp dụng một biện pháp tự vệ là không quá 4 năm, trong trường hợp có gia hạn thì tổng toàn bộ thời hạn áp dụng không được quá 8 năm.

4. Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ

Hiệp định đặt ra các thời hạn cho tất cả các biện pháp tự vệ. Nhìn chung, thời gian áp dụng biện pháp sẽ không vượt quá 4 năm mặc dù thời hạn này có thể được kéo dài tối đa đến 8 năm, tùy thuộc vào sự xác định mức độ cần thiết gia hạn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nếu có chứng cứ rõ ràng rằng ngành công nghiệp này đang được điều chỉnh. Bất kỳ biện pháp nào được áp dụng trong khoảng thời gian trên 1 năm sẽ từng bước được nới lỏng trong suốt thời gian áp dụng. Không một biện pháp tự vệ nào được áp dụng trở lại đối với một sản phẩm đã từng bị áp dụng biện pháp này trong thời hạn bằng thời hạn mà biện pháp đó đã được áp dụng trước đây với điều kiện là thời hạn không áp dụng phải ít nhất là 2 năm. Có thể áp dụng lại một biện pháp tự vệ đối với việc nhập khẩu một sản phẩm trong thời hạn 180 ngày hoặc ít hơn nếu ít nhất 1 năm sau khi biện pháp tự vệ này được áp dụng đối với sản phẩm đó, và nếu biện pháp tự vệ này chưa được áp dụng hơn hai lần cho cùng một sản phẩm trong vòng 5 năm ngay trước ngày áp dụng biện pháp này.

5. So sánh biện pháp tự vệ với biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp

Khác với biện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp, về nguyên tắc biện pháp tự vệ không nhằm vào nhập khẩu từ một nước cụ thể. Biện pháp tự vệ phải được áp dụng không phân biệt đối xử. Trong trường hợp áp dụng hạn ngạch, hạn ngạch sẽ được phân bổ cho các nước dựa trên kim ngạch nhập khẩu từ các nước trong một khoảng thời gian trước đó. Tuy nhiên, trong một số đặc biệt khi nhập khẩu từ một vài nước tăng lên một cách bất bình thường, biện pháp tự vệ có thể chỉ áp dụng với riêng hàng nhập khẩu từ những nước đó mà thôi.

Trong khi biện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp được áp dụng đối với những mặt hàng nhập khẩu được coi là cạnh tranh "không đẹp" (vì bán phá giá hoặc vì được trợ cấp), biện pháp tự vệ được áp dụng mà không cần cơ sở hợp lý nào đối với hàng nhập khẩu. Vì vậy, để đền bù thiệt hại cho nước xuất khẩu, nước nhập khẩu có thể thông qua tham vấn giữa hai bên dành cho nước xuất khẩu ưu đãi nhất định trong các lĩnh vực khác. Nếu như không đạt được thỏa thuận thông qua tham vấn, nước xuất khẩu có quyền trả đũa bằng cách áp dụng những biện pháp tương tự đối với hàng hóa của nước nhập khẩu.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)