2. Người lao động làm việc cho công ty có thời gian nghỉ chế độ thai sản theo quy định, nghỉ bệnh từ đủ 1 tháng trở lên, sau khi làm việc được đủ 12 người lao động này nghỉ việc vậy công ty phải tính trợ cấp thôi việc cho thời gian nghỉ chế độ thai sản, chế độ ốm đau này có đúng không ạ?

3. Theo như nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của chính phủ thì:

“ Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.”

Theo như nội dung phần b ở trên thì doanh nghiệp làm như sau thì có được không: ·

- Khi người lao động vào thử việc đơn vị sẽ tính và chi trả luôn mức đóng bảo hiểm thất nghiệp vào thời điểm trả lương hàng tháng cho người lao động (số tiền này được tính bằng Lương chính khi được ký hợp đồng lao động chính chức * 1% mức BHTN mà công ty đóng cho người lao động). ·

- Khi người lao động nghỉ thai sản theo chế độ, nghỉ ốm đau từ đủ 1 tháng trở lên, công ty sẽ tính và chi trả luôn mức đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động vào ký phát lương hàng tháng của công ty (số tiền này được tính bằng lương tham gia bảo hiểm bắt buộc của tháng liền kề trước đó *1% mức đóng BHTN mà công ty phải đóng cho người lao động). Như vậy sau 1 năm người lao động nghỉ việc thì công ty không phải tính trợ cấp thôi việc cho thời gian thử việc và thời gian nghỉ chế độ thai sản, nghỉ ốm đau từ đủ 1 tháng trở lên nữa có được không ạ? Đơn vị làm vậy thì có vi phạm không?

Rất mong nhận được hồi âm từ quý luật sư! Chân thành cảm ơn.

>> Xem thêm:  Cách xác định tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến,gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau: 

1. Cơ sở pháp lý:

Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động

Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

Bộ luật lao động năm 2012

Nghị định 105/2014/NĐ-CP hướng dẫn luật bảo hiểm y tế

>> Xem thêm:  Người bị cách ly y tế do bị nhiễm Covid-19 được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội như thế nào?

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động:

"3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;"

Theo đó, Thời gian để tính trợ cấp thôi việc bao gồm cả thời gian thử việc, thời gian nghỉ chế độ thời sản, thời gian nghỉ ốm đau của người lao động.

Thứ hai, Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc thì:

"Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người lao động là công dân Việt Nam tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Nghị định này, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

c) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức;"

>> Xem thêm:  Mở công ty riêng khi đang xin trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thai sản ?

Hơn nữa, theo hướng dẫn tại Công văn 3945/2015/CV-LĐTBXH-LĐTL thì:

"2. Về tham gia bảo hiểm thất nghiệp đối với thời gian thử việc

Theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội (2006, 2014) thì người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên (từ ngày 01/01/2018 là hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên) thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Theo quy định tại Điều 26, Điều 27 của Bộ luật Lao động thì người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Hợp đồng thử việc phải có các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h Khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này, không bao gồm nội dung về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế."

Căn cứ quy định nêu trên thì thời gian thử việc theo hợp đồng thử việc, người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.

Tại Điều 48 và Điều 49 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

"Điều 48. Trợ cấp thôi việc
1.Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Điều 49. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương."

Theo đó, Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm hai loại trợ cấp mà người sử dụng lao động phải trả khi chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên cho thời gian làm việc mà người sử dụng lao động và người lao động không phải tham gia hoặc không đủ điều kiện tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Như vậy, khi người lao động nghỉ ốm đau, nghỉ thai sản theo chế độ mà công ty tính và chi trả luôn mức đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động vào kỳ phát lương hàng tháng của công ty thì sau 1 năm người lao động nghỉ việc thì công ty không phải tính trợ cấp thôi việc cho thời gian thử việc và thời gian nghỉ chế độ thai sản, nghỉ ốm đau từ đủ 1 tháng trở lên nữa là đúng quy định của pháp luật lao động. Nhưng công ty sẽ phải chứng minh được mình đã chi trả các khoản tiền này cho người lao động trước đó. 

>> Xem thêm:  Nghỉ việc rồi có thể tự đi làm chế độ thai sản được không?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                                  

Trân trọng./.                                  

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG

>> Xem thêm:  Tư vấn về vấn đề nghỉ ốm của người lao động?