1. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) là gì?

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới trong tiếng Anh là World Intellectual Property Organization, viết tắt là WIPO.

Công ước thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới được kí tại Stockholm ngày 14/7/1967 và có hiệu lực từ ngày 26/4/1970. Đến 17/12/1974, WIPO trở thành tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc, trụ sở của WIPO đóng tại Geneva, Thụy Sĩ.

Tuy nhiên, tiền thân của tổ chức này đã tồn tại từ năm 1883 và 1886, cùng với việc thông qua Công ước Paris và Công ước Berne. Sau đó vào năm 1893 hai văn phòng này được hợp nhất thành BIRPI - các chữ cái đầu của tên gọi theo tiếng Pháp là Ủy ban quốc tế thống nhất về bảo hộ sở hữu trí tuệ, tiền thân của WIPO sau này.

2. Sự ra đời của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

Nguồn gốc hình thành của Tố chức sở hữu Trí tuệ Thế giối bắt đầu từ năm 1883, năm ra đời của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, hiệp định quốc tế quan trọng đầu tiên nhằm giúp công dân của một nước có được sự bảo hộ ở nước ngoài đối với các sáng tạo trí tuệ của họ dưới hình thức các quyền sở hữu công nghiệp.

Công ước Paris có hiệu lực từ năm 1884 với 14 nước thành viên, thành lập một Văn phòng Quốc tế nhằm quản lý việc thực hiện nhiệm vụ.

Năm 1886, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật ra đòi. Công ước Berne cũng thành lập một Văn phòng Quốc tế để thực hiện nhiệm vụ.

Năm 1893, hai văn phòng này hợp nhất thành một tổ chức quốc tế được gọi là Văn phòng Quốc tế Thống nhất về Bảo hộ Sở hữu Trí tuệ (viết tắt bằng tiếng Pháp là BIRPI), có trụ sở tại Berne, Thuỵ Sĩ, vối 7 nhân viên, tổ chức này là tiền thân của Tổ chức sở hữu Trí tuệ Thế giới ngày nay.

Khi tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ tăng lên, cơ cấu và hình thức tổ chức của BIRPI cũng thay đổi. Năm 1960, BIRPI chuyển từ Berne đến Geneva. Sau khi Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu Trí tuệ, có hiệu lực, BIRPI trở thành WIPO, tiếp tục các cải tổ về cơ cấu và quản lý, và có ban thư ký chịu trách nhiệm đối với các nước thành viên.

Năm 1974, WIPO trở thành một tổ chức chuyên môn trong hệ thống tổ chức của Liên Hợp Quốc, với nhiệm vụ quản lý các vấn đề vể sở hữu trí tuệ được các nước thành viên Liên Hợp Quốc công nhận. WIPO mở rộng vai trò và cho thấy rõ hơn tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ trong việc quản lý thương mại toàn cầu vào năm 1996 bằng việc tham gia một hiệp định hợp tác với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Hiện nay, WIPO quản lý việc thực hiện 21 hiệp định (trong đó hai hiệp định được quản lý với sự hợp tác của các tổ chức quốc tế khác) và thực hiện một chương trình hoạt động phong phú và đa dạng.

3. Chức năng và hoạt động của WIPO

Nhiệm vụ của WIPO là thông qua hợp tác quốc tế thúc đẩy việc sáng tạo, truyền bá, khai thác và bảo hộ các sản phẩm trí tuệ của con người phục vụ sự tiến bộ về xã hội, văn hóa và kinh tế của toàn nhân loại.

Tác dụng của nó là đóng góp vào việc cân bằng giữa một bên là khuyến khích tính sáng tạo trên toàn thế giới bằng cách bảo hộ một cách đầy đủ các lợi ích vật chất và tinh thần của những người sáng tạo và một bên là bảo đảm sự tiếp cận hợp lí tới các lợi ích văn hóa, kinh tế - xã hội đem lại từ sự sáng tạo đó trên toàn thế giới.

4. Vai trò của WIPO

Sự cần thiết phải có một tổ chức quốc tế liên chính phủ để quản lí vấn đề Sở hữu trí tuệ (SHTT) trên thế giới xuất phát từ bản thân những yếu tố rất đặc thù của các đối tượng này. Bởi quyền SHTT bị giới hạn bởi yếu tố lãnh thố, chúng tồn tại và được thực thi trong phạm vi lãnh thổ quốc gia theo qui định của pháp luật nước đó.

Nhưng các sản phẩm trí tuệ, trong đó chứa đựng các ý tưởng sáng tạo, thường dễ dàng và cần phải được truyền bá từ nước này sang nước khác.

Hơn nữa, ở một góc độ khác, với thực tế là pháp luật các quốc gia về SHTT ngày càng giống nhau thì nhu cầu phải đơn giản hóa công tác bảo hộ SHTT thông qua việc tiêu chuẩn hóa quốc tế hay hài hòa hóa pháp luật của các nước là một điều cần thiết và nên làm.

Vì thế các chính phủ đã đàm phán và thông qua các điều ước quốc tế đa phương trong các lĩnh vực SHTT khác nhau. Trong hầu hết các trường hợp, tên của điều ước quốc tế được lấy từ địa điểm mà điều ước đó được kí lần đầu tiên (ví dụ như Công ước Paris, Công ước Berne,...) và WIPO được lập ra để quản lí các điều ước quốc tế này.

5. Thành viên

WIPO hiện có 193 quốc gia thành viên và 250 quan sát viên là các tổ chức phi chính phủ, liên chính phủ. Việt Nam đã trở thành thành viên của WIPO từ ngày 2/6/1976.

Để trở thành thành viên của WIPO, các quốc gia phải đảm bảo những điều kiện sau:

+ Thành viên của WIPO phải là quốc gia thành viên của Liên hợp quốc (tức là chỉ có quốc gia mới có thể trở thành thành viên WIPO).

+ Quốc gia muốn gia nhập WIPO phải gửi Đơn xin gia nhập tới Tổng giám đốc WIPO tại Giơ-ne-vơ.

+ Với các nước là thành viên của Công ước Paris và Công ước Bern nếu đã ký kết/phê chuẩn hoặc gia nhập ít nhất là các điều khoản hành chính của Văn kiện Stockholm (1967) của Công ước Paris hoặc văn kiện Paris (1971) của Công ước Bern, thì mới có thể trở thành thành viên của WIPO.

WIPO luôn hoan nghênh việc đưa các tổ chức và các nhóm lợi ích tham gia với tư cách là quan sát viên tại các cuộc họp chính thức của các quốc gia thành viên. WIPO cũng tìm cách liên lạc với các tổ chức phi chính phủ, IGO, các nhóm ngành và tất cả các bên liên quan khác một cách rộng rãi nhất có thể trong các quy trình tham vấn và tranh luận về các vấn đề hiện tại.

5. Cơ cấu quản trị

- Tổng giám đốc hiện tại của WIPO là Francis Gurry. Ông đã làm Tổng giám đốc WIPO kể từ ngày 1 tháng 10 năm 2008. Ông được bổ nhiệm lại vào tháng 5 năm 2014 với nhiệm kỳ 6 năm lần thứ 2, kéo dài đến tháng 9 năm 2020.

- Cơ cấu tổ chức của WIPO dựa trên 7 ngành, mỗi ngành do một Phó Tổng Giám đốc (DDG) hoặc Trợ lý Tổng Giám đốc (ADG) đứng đầu, dưới sự lãnh đạo chung của Tổng Giám đốc.

+ Đại hội đồng (ĐHĐ) là cơ quan quyền lực cao nhất của WIPO. ĐHĐ bổ nhiệm TGĐ trên cơ sở đề nghị của UB điều phối. ĐHĐ thường họp một lần/năm nhằm xem xét và thông qua các Báo cáo của Ủy ban điều phối, của Tổng giám đốc WIPO, thông qua ngân sách tài chính của tổ chức, thông qua các biện pháp do TGĐ đề ra.

+ Hội nghị bao gồm các quốc gia thành viên của WIPO, có nhiệm vụ thảo luận các công việc liên quan tới sở hữu trí tuệ, thông qua các vấn đề tư vấn và ngân sách của Hội nghị.

+ Ủy ban Điều phối điều hành, có nhiệm vụ quản lý hoạt động và tư vấn cho WIPO, về các vấn đề hành chính, tài chính, văn bản, tài liệu, dự trù ngân sách…

+ Văn phòng Quốc tế (Ban thư ký), đứng đầu là Tổng Giám đốc (TGĐ) hiện nay là ông Francis Gurry, quốc tịch Úc. Giúp việc TGĐ là các Phó TGĐ và Ban thư ký. Ban Thư ký bao gồm các nhân viên được WIPO tuyển chọn trên cơ sở chuyên môn có tính tới yếu tố hợp lý địa lý.

- Tổng giám đốc Francis Gury là người chịu trách nhiệm lãnh đạo toàn bộ WIPO, làm việc trực tiếp với các DDG, ADG sau:

+ Phòng Quản lý nhân sự

+ Văn phòng luật sư tư vấn

+ Phòng chính sách trí tuệ nhân tạo

+ Phòng Kinh tế và Phân tích dữ liệu

+ Phòng giám sát nội bộ

+ Phòng chuyển đôi và phụ trách các nước đang phát triển

- Văn phòng Tổng giám đốc. Đứng đầu là ADG Naresh Prasad, phụ trách các phòng, ban quan trọng như:

+ Nội các của DG (ODG)

+ Phòng lắp ráp

+ Bộ phận tiếp thị và dịch vụ khách hàng

+ Phòng tin tức và Truyền thông

+ Phòng xuất bản

+ Bộ phận quản lý sự kiện

+ Đơn vị điều phối văn phòng bên ngoài

+ Văn phòng WIPO tại Algeria

+ Văn phòng WIPO tại Brazil

+ Văn phòng WIPO tại Nigeria

+ Văn phòng WIPO tại Singapore

- Lĩnh vực Thương hiệu & Thiết kế, đứng đầu là DDG Binying Wang. Đảm nhận phụ trách các phòng, ban chức năng như:

+ Cục thương hiệu, thiết kế công nghiệp và chỉ dẫn địa lý

+ Cơ quan đăng ký Madrid

+ Cơ quan đăng ký Hague

+ Cơ quan đăng ký Lisbon

+ Phòng hệ thống thông tin Hague

+ Văn phòng WIPO tại Trung Quốc

- Lĩnh vực Bản quyền và ngành công nghiệp sáng tạo, đứng đầu là DDG Sylvie Forbin. Đảm nhận phụ trách các phòng, ban chức năng như:

+ Phòng Quản lý bản quyền

+ Phòng luật bản quyền

+ Phòng phát triển bản quyền

- Lĩnh vực Phát triển, đứng đầu là DDG Mario Matus. Đảm nhận phụ trách các phòng, ban chức năng như:

+ Học viện WIPO

+ Phòng điều phối chương trình nghị sự phát triển

+ Cục quản lý khu vực châu Phi

+ Cục quản lý khu vực các nước Ả Rập

+ Cục quản lý khu vực châu Á – Thái Bình Dương

+ Cục quản lý khu vực Mỹ Latinh và Caribe

+ Bộ phận hỗ trợ các nước kém phát triển

+ Các dự án hợp tác đặc biệt

- Bằng sáng chế và lĩnh vực công nghệ, đứng đầu là DDG John Sandage. Đảm nhận phụ trách các phòng, ban chức năng như:

+ Trung tâm Hòa giải WIPO

+Phòng pháp lý và Quốc tế PCT

+ Phòng dịch vụ PCT

+ Bộ phận luật sáng chế

- Quản trị & Quản lý, đứng đầu là ADG Ambi Sundaram. Đảm nhận phụ trách các phòng, ban chức năng như:

+ Phòng Hội nghị và dịch vụ tổng hợp

+ Phòng kế hoạch chương trình và tài chính

+ Phòng Công nghệ thông tin và Truyền thông

+ Phòng ngôn ngữ

+ Phòng cơ sở hạ tầng

+ Bộ phận mua sắm và du lịch

+ Bộ phận Đảm bảo An ninh và Thông tin

- Lĩnh vực Cơ sở hạ tầng toàn cầu, đứng đầu là ADG Yo Takagi. Đảm nhận phụ trách các phòng, ban chức năng như:

+ Phòng phân loại và tiêu chuẩn quốc tế

+ Phòng đổi mới và cơ sở hạ tầng tri thức

+ Bộ phận hỗ trợ công nghệ và đổi mới

+ Bộ phận Giải pháp Kinh doanh văn phòng IP

+ Bộ phận cơ sở dữ liệu toàn cầu

+ Văn phòng WIPO tại Nhật Bản

- Lĩnh vực Vấn đề toàn cầu, đứng đầu là DG Minelik Alemu Getahun. Đảm nhận phụ trách các phòng, ban chức năng như:

+ Phòng đối ngoại

+ Phòng truyền thống và thách thức toàn cầu

+ Xây dựng sự tôn trọng cho bộ phận IP

+ Bộ phận chính sách cạnh tranh và IP