- 1. Trách nhiệm hình sự của hành vi giao cấu đồng giới?
- 2. Mức phạt người đã thành niên thực hiện hành vi giao cấu với trẻ em?
- 3. Pháp luật hình sự quy định như thế nào về tội giao cấu với trẻ em?
- 4. Khởi tố hình sự khi giao cấu với người dưới 16 tuổi?
- 5. Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi chưa giao cấu?
1. Trách nhiệm hình sự của hành vi giao cấu đồng giới?
>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Trước hết, hành vi trên của người chú với cháu trong tình huống của bạn không thể cấu thành tội loạn luân vì theo Điều 150, Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về tội loạn luân như sau:
Điều 184. Tội loạn luân
Người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Quan hệ giữa chú và cháu không phải thuộc cũng dòng máu về trực hệ, do vậy không thể cấu thành tội loạn luân.
Trong tình huống trên, người chú ruột (đã thành niên) giao cấu với cháu trai ruột (dưới 15 tuổi) và người cháu tự nguyện để chú thực hiện hành vi đó, không có hành vi hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của nạn nhân. Như vậy, về mặt khách thể bị xâm phạm là quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của trẻ em, đây là hành vi giao cấu có sự đồng ý, chấp nhận của nạn nhân mặc dù người phạm tội không có bất kỳ thủ đoạn nào ép buộc, khống chế, lỗi của người thực hiện là cố ý trực tiếp
Như vậy, có thể kết luận hành vi trên của người chú cấu thành tội giao cấu với trẻ em theo Điều 115 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt của tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
"Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
- Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
+ Phạm tội nhiều lần;
+ Đối với nhiều người;
+ Có tính chất loạn luân;
+ Làm nạn nhân có thai;
+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;
+ Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.
2. Mức phạt người đã thành niên thực hiện hành vi giao cấu với trẻ em?
>> Luật sư tư vấn pháp luật hành chính qua điện thoại gọi: 1900.6162
Trả lời :
Đây là tình huống liên quan đến thẩm quyền và hình thức xử lý đối với hành vi giao cấu với trẻ em của người đã thành niên (18 tuổi). Để giải quyết tình huống trên theo đúng quy định của pháp luật, cần vận dụng các quy định về thẩm quyền, hình thức xử lý đối với hành vi vi phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của Phạm Văn B với Phạm Thị X có vi phạm pháp luật và phải bị xử lý không?
- Phạm Văn B sinh ngày 20/12/1997 (theo chứng minh nhân dân), tính đến thời điểm 20/1/2020, B đã là người thành niên. Phạm Thị X sinh ngày 20/8/2005(theo chứng minh nhân dân), tính đến thời điểm 20/1/2020, X được 15 tuổi. Ngày 20/1/2020, lần đầu tiên Phạm Văn B đã thực hiện hành vi giao cấu với Phạm Thị X (khi được X đồng ý).
- Đối chiếu với khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.), thì Phạm Văn B đã thực hiện hành vi giao cấu với trẻ em.
Theo đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y có thẩm quyền thụ lý điều tra vụ việc xảy ra tại nhà nghỉ Hướng Dương.
Các bước mà Công an xã X cần tiến hành trong thẩm quyền của mình
- Lập biên bản bắt giữ Phạm Văn B - người có hành vi phạm tội quả tang.
- Chuyển giao biên bản cùng các tài liệu có liên quan, tang vật (nếu có) và đối tượng đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y
3. Pháp luật hình sự quy định như thế nào về tội giao cấu với trẻ em?
Luật sư trả lời:
- Thứ nhất, về tội mà C phạm phải:
Theo như thông tin bạn cung cấp anh C có thực hiện hành vi giao cấu với cháu gái bạn là N (sinh ngày 02/11/2003). Thời điểm C bắt đầu thực hiện hành vi này là vào ngày 10/04/2018, lúc này cháu N 15 tuổi. Do bạn không nói rõ anh C và cháu N có quan hệ trên cơ sở tự nguyện hay không cũng như mức độ tổn thương cơ thể và tinh thần của cháu C, nên sẽ có hai trường hợp xảy ra:
- Trường hợp 1: anh C có hành vi đe dọa dùng vũ hoặc dùng vũ lực và các thủ đoạn khác để ép cháu C phải quan hệ tình dục với mình, C có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự căn cứ theo quy định tại Điều 142 Bộ luật hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi. Cụ thể:
"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;
b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Có tính chất loạn luân;
b) Làm nạn nhân có thai;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Đối với 02 người trở lên;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Có tổ chức;
b) Nhiều người hiếp một người;
c) Đối với người dưới 10 tuổi;
d) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
đ) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
g) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."
- Trường hợp 2: Giữa C và cháu N quan hệ với nhau trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện, thì C có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Cụ thể:
"1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Có tính chất loạn luân;
d) Làm nạn nhân có thai;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
e) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."
- Thứ hai, về thời hạn điều tra vụ án hình sự:
Thời hạn điều tra được quy định cụ thể tại Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ngày 27 tháng 11 năm 2015, chi tiết như sau:
"1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
5. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba....
Trong trường hợp này tùy theo tội mà C phạm phải để xác định khung hình phạt và loại tội phạm. Nếu mức cao nhất của khung hình phạt mà C phạm phải là 3 năm đến 7 năm tù, phạm tội nghiêm trọng, thì thời hạn điều tra là không quá 03 tháng, khi tình tiết vụ việc phức tạp có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng. Nếu mức cao nhất của khung hình phạt mà C phạm phải là 7 đến 15 năm , phạm tội rất nghiêm trọng, thì thời hạn điều tra là không quá 04 tháng, khi có tình tiết phức tạp cần xem xét thì có thể được gia hạn điều tra hai lần, tổng thời gian gia hạn không quá 08 tháng. Nếu mức cao nhất của khung hình phạt mà C phạm phải là từ trên 15 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình thì thời hạn điều tra là không quá 04 tháng, khi có tình tiết phức tạp cần xem xét thì có thể được gia hạn điều tra ba lần, tổng thời gian gia hạn không quá 12 tháng.
Như vậy, căn cứ vào các quy định trên trường hợp của bạn nộp đơn tố giác từ tháng 4/2018 đến nay mới hơn một tháng tức là vẫn còn đang trong thời hạn điều tra, nên phía cơ quan công an chưa đưa ra câu trả lời chính xác cho gia đình bạn được, vụ việc vẫn đang được giải quyết. Trường hợp hết thời hạn điều tra, vụ việc vẫn chưa được xử lý hoặc bạn có căn cứ chứng minh việc điều tra của điều tra viên thiếu khách quan có dấu hiệu vi phạm pháp luật, bạn có quyền nộp đơn khiếu nại đến thủ trưởng cơ quan công an nơi bạn nộp đơn tố giác tội phạm để yêu cầu giải quyết (theo quy định tại Điều 475 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).
Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến về hành vi giao cấu trẻ em qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.
4. Khởi tố hình sự khi giao cấu với người dưới 16 tuổi?
>> Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi: 1900.6162
Trả lời:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
ĐƠN XIN TRÌNH BÁO
Kính gửi: CÔNG AN QUẬN ………………………
Tôi tên là :……………………………………………
CMND số : ……………………………………………
ĐKHKTT : ……………………………………………
Chỗ ở hiện tại : ......................................................
Tôi làm đơn này xin trình báo với quý cơ quan việc như sau:
Thứ nhất:
Vào ngày ………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
Tiếp theo,
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
Thứ hai:
Ngày …/…./…..
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
………………………………………………………………
Thấy có nhiều dấu hiệu bất thường nên ………………
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
Như vậy, hành động của……… chứng tỏ anh ta đã có ý định ... tôi nhằm mục đích ....
Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tôi, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến quyền vàlợi ích của công dân
……………..……………………………………………………
Nay tôi đề nghị Qúy cơ quan xem xét các vấn đề sau đây:
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
Xin chân thành cảm ơn.
| Tài liệu kèm theo: | Hà Nội, ngày …. tháng ….. năm…… Người làm đơn |
5. Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi chưa giao cấu?
>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Hiện nay với những thông tin bạn cung cấp gia đình bạn gái bạn chưa đủ căn cứ khởi kiện. Quy định tại Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017
Thứ nhất, bạn không phạm tội hiếp dâm theo Điều 111 của Bộ luật hình sự năm 1999, vì khi quan hệ cả hai bên đều tự nguyện và cô bạn gái của bạn đã đủ 16 tuổi.
a) Có tổ chức;
b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;
c) Nhiều người hiếp một người;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Có tính chất loạn luân;
g) Làm nạn nhân có thai;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
i) Tái phạm nguy hiểm.
Thứ hai, bạn không phạm tội cưỡng dâm theo Điều 143 của Bộ luật hình sự năm 2015, vì khi quan hệ bạn không đe dọa hay dùng vũ lục để bắt buộc cô ấy miễn cưỡng quan hệ với mình. Hai người hoàn toàn tự nguyện
Thứ ba, bạn cũng không phạm tội giao cấu với trẻ em, vì theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì những ai đã thành niên mà giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi mới phạm tội này. Điều luật này đòi hỏi nạn nhân phải là nữ (hoặc nam) phải trong độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16. Tuy nhiên cô bạn gái của bạn đã đủ 16 tuổi nên bạn cũng không phạm tội theo quy định của điều này.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!