Luật sư tư vấn:

1. Trình tự khởi kiện

Trình tự khởi kiện tại trọng tài theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chia thành hai loại: khởi kiện tại Trung tâm trọng tài và khởi kiện tại trọng tài vụ việc. Cụ thể:

1.1 Khởi kiện tại Trung tâm trọng tài

Khi giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài, nguyên đơn làm đơn khởi kiện gửi Trung tâm. Nội dung đơn kiện quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Kèm theo đơn khởi kiện, phải có thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu có liên quan. Việc gửi kèm thỏa thuận trọng tài khi khởi kiện thể hiện đặc trưng của giải quyết tranh chấp tại trọng tài, bởi vì chỉ khi có thỏa thuận trọng tài thỏa mãn điều kiện, trọng tài mới có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các bên. Điều này khiến việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài khác với việc giải quyết tranh chấp tại toà án, bởi vì khi giải quyết tranh chấp tại toà, các bên không cần thỏa thuận lựa chọn toà án nào sẽ giải quyết cho mình; và nếu có thỏa thuận lựa chọn, thẩm quyền của toà án cũng không phát sinh từ sự thỏa thuận của các bên.

Nếu các bên không có thỏa thuận khác, thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và chứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài, Trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, bị đơn phải gửi cho Trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ. Theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, thời hạn này có thể được Trung tâm trọng tài gia hạn căn cứ vào tình tiết cụ thể của vụ việc. Trường hợp bị đơn không nộp bản tự bảo vệ, quá trình giải quyết tranh chấp vẫn được tiến hành. Như vậy, Trung tâm trọng tài có vai trò là chủ thể trung gian, đứng giữa các bên để giải quyết tranh chấp. Trung tâm nhận đơn khởi kiện và các tài liệu có liên quan từ nguyên đơn, sau đó gửi bản sao cho bị đơn, và bị đơn có quyền gửi cho Trung tâm bản tự bảo vệ để làm căn cứ bảo đảm quyền lợi của mình trước trọng tài. Điều này cho thấy ngay từ đầu, trọng tài đã tham gia vào vụ kiện thông qua thủ tục nhận đơn kiện và tài liệu từ nguyên đơn, gửi bản sao cho bị đơn, nhận tài liệu từ bị đơn để bảo vệ quyền lợi cho các bên tranh chấp.

Bên cạnh việc gửi bản tự bảo vệ, bị đơn cũng có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp (có thể liên quan đến chính vấn đề mà nguyên đơn kiện hoặc vấn đề khác). Đơn kiện lại của bị đơn được gửi cho Trung tâm trọng tài cùng thời điểm với việc nộp bản tự bảo vệ của bị đơn. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện lại, nguyên đơn phải gửi bản tự bảo vệ cho Trung tâm. Việc giải quyết đơn kiện lại do Hội đồng trọng tài giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn thực hiện theo quy định về trình tự, thủ tục giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, nếu có đơn kiện lại của bị đơn, đơn kiện đó sẽ được giải quyết đồng thời với đơn kiện chính mà không tách ra giải quyết thành vụ việc riêng. Quy định như vậy khiến các bên vừa đỡ mất thời gian theo kiện, vừa giảm chi phí vụ kiện, vừa giải quyết tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cả nguyên đơn và bị đơn của vụ tranh chấp.

Trước khi Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài, các bên tranh chấp có quyền rút đơn khởi kiện, đơn kiện lại. Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có thể sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn kiện lại hoặc bản tự bảo vệ. Hội đồng trọng tài có quyền không chấp nhận các sửa đổi, bổ sung này nếu thấy rằng việc đó có thể bị lạm dụng nhằm gây khó khăn, trì hoãn việc ra phán quyết trọng tài hoặc vượt quá phạm vi của thỏa thuận trọng tài áp dụng cho vụ tranh chấp. Quy định này nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp, và cũng được áp dụng khi toà án thụ lý đơn yêu cầu của các bên.

1.2 Khởi kiện tại trọng tài vụ việc

Khi vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài vụ việc, nguyên đơn làm đơn khởi kiện và gửi cho bị đơn. Thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, nếu các bên không có thỏa thuận khác. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo, bị đơn phải gửi cho nguyên đơn và Trọng tài viên bản tự bảo vệ, tên và địa chỉ của người mà mình chọn làm Trọng tài viên. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa thủ tục khởi kiện tại Trung tâm trọng tài và thủ tục khởi kiện tại trọng tài vụ việc; bởi vì khởi kiện tại Trung tâm trọng tài, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện cho Trung tâm và bị đơn cũng gửi đơn khởi kiện cho Trung tâm (Khoản 1 Điều 30 Luật Trọng tài thương mại năm 2010). Đối với trọng tài vụ việc, vì trọng tài chỉ được thành lập khi có tranh chấp xảy ra nên khi nguyên đơn khởi kiện, không có Trung tâm trọng tài và cũng chưa tồn tại Hội đồng frọng tài, do đó các bên gửi trực tiếp cho nhau. Trong đơn khởi kiện và trong bản tự bảo vệ, nguyên đơn, bị đơn sẽ chọn Trọng tài viên cho mình để thành lập Hội đồng trọng tài.

>> Xem thêm:  Điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS) là gì ? Thời điểm chuyển dịch rủi ro trong Incoterms

Tương tự như trọng tài thường trực, đối với ưọng tài vụ việc, bị đơn cũng có quyền kiện lại nguyên đơn về cùng nội dung nguyên đơn kiện hoặc nội dung khác, và đơn kiện lại phải gửi cho Hội đồng trọng tải và nguyên đơn. Nguyên đơn, bị đơn cũng có quyền rút đơn kiện, đơn kiện lại; sửa đổi, bổ sung đơn kiện, đơn kiện lại hay bản tự bảo vệ.

1.3 Điều kiện thụ lý đơn

Vụ tranh chấp được thụ lý giải quyết tại Trung tâm trọng tài hay trọng tài vụ việc khi thỏa mãn các điều kiện sau:

- Có thỏa thuận trọng tài của các bên lựa chọn Trung tâm trọng tài hay trọng tài vụ việc; thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và có thể thực hiện được trên thực tế;

- Có đơn khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Trung tâm trọng tài hay gửi cho bị đơn và đơn kiện hợp lệ;

- Đơn kiện được gửi đúng thời hiệu khởi kiện. Theo Điều 33 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác;

- Nguyên đơn đã nộp đủ phí trọng tài. Phí trọng tài gồm:

+ Thù lao Trọng tài viên, chi phí đi lại và các chi phí khác cho Trọng tài viên;

+ Phí tham vẩn chuyên gia và các trợ giúp khác theo yêu cầu của Hội đồng trọng tài;

+ Phí hành chính;

>> Xem thêm:  Khái niệm, ý nghĩa việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài

+ Phí chỉ định Trọng tài viên vụ việc của Trung tâm trọng tài theo yêu cầu của các bên tranh chấp;

+ Phí sử dụng các dịch vụ tiện ích khác được cung cấp bởi Trung tâm trọng tài. Phí trọng tài do Trung tâm trọng tài ấn định (đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm họng tài); hoặc do Hội đồng trọng tài ấn định (đối với vụ tranh chấp được giải quyết bởi trọng tài vụ việc - Điều 34 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

2. Thành lập Hội đồng trọng tài

Điều 39 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định, thành phần Hội đồng trọng tài có thể bao gồm một hoặc nhiều Trọng tài viên theo sự thỏa thuận của các bên. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về số lượng Trọng tài viên, Hội đồng trọng tài bao gồm ba Trọng tài viên. Quy định này khiến Luật Trọng tài thương mại năm 2010 giống với Luật Trọng tài Đức (Khoản 1 Điều 1034 Luật Trọng tài Đức), Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế (Khoản 2 Điều 10 Luật mẫu); nhưng khác với Luật Trọng tài Anh (Khoản 3 Điều 15 Luật Trọng tài Anh quy định con số mặc định là một Trọng tài viên). Đây là quy định tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên khi lựa chọn Trọng tài viên, là điểm khác so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003; bởi vì trước đây, Hội đồng trọng tài chỉ có thể gồm một hoặc ba Trọng tài viên.

Trọng tài viên là người được các bên lựa chọn hoặc được Trung tâm trọng tài hay toà án chỉ định để giải quyết tranh chấp theo quy định (khoản 5 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010). Trọng tài viên là những người thỏa mãn các tiêu chuẩn Luật định, cụ thể, Trọng tài viên phải:

+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của bộ luật dân sự;

+ Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên;

+ Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trinh độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiêm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu câu về bằng cấp và thực tế công tác cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên (khoản 1 Điều 20 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

Trọng tài viên cũng không được rơi vào các trường hợp bị cấm như: đang là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, công chức thuộc toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án; đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xoá án tích (khoản 2 Điều 20 Luật Trọng tài thương mại năm 2010). Quy định về tiêu chuẩn Trọng tài viên của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 khiến Luật Trọng tài của Việt Nam tương tự giống Luật Trọng tài Trung Quốc (Điều 13 Luật Trọng tài Trung Quốc năm 1994), nhưng khác với Luật Trọng tài của một số nước như Anh, Pháp hay Luật mẫu... vì các văn bản pháp luật này không đặt ra tiêu chuẩn cho Trọng tài viên mà để đương sự có toàn quyền lựa chọn, bất kể quốc tịch, bằng cấp, trình độ... của Trọng tài viên.

>> Xem thêm:  Trọng tài quốc tế là gì ? Nội dung bản quy tắc về trọng tài quốc tế ?

2.1 Thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm trọng tài

Trong trường họp các bên không có thỏa thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không quy định khác, việc thành lập Hội đồng trọng tài được quy định như sau:

- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và yêu cầu chọn Trọng tài viên do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên cho mình và báo cho Trung tâm trọng tài biết hoặc đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên. Nếu bị đơn không chọn Trọng tài viên hoặc không đề nghị Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên, trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn;

- Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện do Trung tâm trọng tài gửi đến, các bị đơn phải thống nhất chọn Trọng tài viên hoặc thống nhất yêu cầu chỉ định Trọng tài viên cho mình. Nếu các bị đơn không chọn được Trọng tài viên, trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn;

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày các Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định, các Trọng tài viên này bâu một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Hết thời hạn này mà việc bầu không thực hiện được, trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định, Chủ tịch Trung tâm trọng tài chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài;

- Trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết nhưng không chọn được Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, theo yêu câu của một hoặc các bên và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chủ tịch Trung tâm trọng tài sẽ chỉ định Trọng tài viên duy nhất (Điều 40 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

Như vậy, khi thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm trọng tài, các bên được quyền chọn Trọng tài viên sẽ giải quyết tranh chấp cho mình. Quy định này sẽ khiến quyền tự định đoạt của các bên được bảo đảm hơn; đồng thời cũng khiến việc thành lập Hội đồng trọng tài tại Trung tâm trọng tài khác biệt với việc thành lập hội đồng xét xử tại toà án, bởi tại toà, các bên đương sự không được quyền chọn thẩm phán, hội thẩm nhân dân... mà chỉ được quyền yêu cầu thay đổi nếu thấy người được phân công giải quyết vụ tranh chấp có biểu hiện không vô tư, không khách quan (Điều 53 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

2.2 Thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc

Việc thành lập Hội đồng họng tài vụ việc tương tự như việc thành lập Hội đồng trọng tài thường trực, đều thể hiện rõ ý chí, quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn Trọng tài viên giải quyết tranh chấp cho mình. Điểm khác biệt giữa thủ tục thành lập hai Hội đồng trọng tài này là: đối với trọng tài thường trực, vì có Trung tâm trọng tài nên khi bị đơn không chọn được Trọng tài viên, các bị đơn không thống nhất chọn được Trọng tài viên, các Trọng tài viên được chọn không chọn được một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài, các bên không chọn được Trọng tài viên duy nhất thì Chủ tịch Trung tâm trọng tài sẽ chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn hoặc cho các bên. Còn đối với trọng tài vụ việc, khi rơi vào các trường hợp kể trên, vì không tồn tại Trung tâm trọng tài nên nguyên đơn hoặc các bên có quyền yêu cầu toà án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên (Điều 41 Luật Trọng tài thương mại nam 2010). Toà án có thẩm quyền là toà án nơi cư trú của bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức; trường hợp có nhiều bị đơn: là toà án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bị đơn đó; trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài: là toà án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn (Điểm a khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại năm 2010). Đây là sự hỗ frợ cần thiết của toà án nhằm giúp các bên và trọng tài vẫn giải quyết tranh chấp tại trọng tài, cho dù một bên hoặc các bên không chọn được Trọng tài viên.

Trọng tài viên sau khi được chọn hoặc chỉ định phải từ chối giải quyết tranh chấp hoặc bị thay đổi nếu roi vào các trường hợp sau:

>> Xem thêm:  Chính sách hỗ trợ của cơ quan tư pháp, tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại ?

- Trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên;

- Trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp;

- Có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan;

- Đã là hoà giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh chấp đỗ ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản (khoản 1 Điều 42 Luật Trọng tài thương mại năm 2010). Việc thay đổi Trọng tài viên do Chủ tịch Trung tâm trọng tài; các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài hoặc thẳm phán toà án quyết định, tuỳ từng trường hợp cụ thể (Khoản 3,4, 5 Điều 42 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

Như vậy, việc chọn hoặc chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài thường trực hay vụ việc khiến Luật Trọng tài thương mại năm 2010 tương thích với luật trọng tài của nhiều nước như: Luật Trọng tài Anh 1996 (Điều 15), Luật Trọng tài Đức (Điều 1035), Luật Trọng tài Pháp (Điều 1455-1457), Luật Trọng tài Thụy Sỹ (Điều 179), Luật mẫu (Điều 11)...

3. Chuẩn bị xét xử

Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Hội đồng trọng tài tiến hành các việc sau đây:

3.1 Xác minh sự việc

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài có quyền gặp hoặc trao đối với các bên với sự có mặt của bên kia bằng các hình thức thích hợp để làm sáng tỏ các vẩn đề có liên quan đến vụ tranh chấp. Hội đồng trọng tài có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên tìm hiểu sự việc từ người thứ ba, với sự có mặt của các bên hoặc sau khi đã thông báo cho các bên biết (Điều 45 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

>> Xem thêm:  Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) là gì ? Quy định về phán quyết, điều lệ trung tâm trọng tài ?

3.2 Thu thập chứng cứ

Các bên có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Hội đồng trọng tài để chứng minh các sự việc có liên quan đến nội dung tranh chấp. Theo yêu cầu của một hoặc các bên, Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp. Hội đồng trọng tài tự minh hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên, có quyền trưng câu giám định, định giá tài sản trong vụ tranh chấp để làm căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp; đồng thời có quyền tham vân ý kiến của các chuyên gia. Trong trường hợp Hội đồng trọng tài, một hoặc các bên đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự minh thu thập được, có thể gửi văn bản đề nghị toà án có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chửc, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ tranh chấp.

3.3 Triệu tập người làm chứng

Theo yêu cầu của một hoặc các bên và xét thấy cần thiết, Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng có mặt tại phiên họp giải quyết tranh chấp. Chi phí cho người làm chứng do bên yêu cầu triệu tập người làm chứng chịu hoặc do Hội đồng trọng tài phân bổ. Đây là quy định mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 nhằm giúp Hội đồng trọng tài có nhiều quyền hạn hơn trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên.

Trường hợp người làm chứng đã được Hội đồng trọng tài triệu tập hợp lệ mà không đến phiên họp nhưng không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc giải quyết franh chấp, Hội đồng trọng tài gửi văn bản đề nghị toà án có thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị triệu tập người làm chứng của Hội đồng trọng tài, Chánh án toà án có thẩm quyền phân công một thẩm phán xem xét, giải quyết yêu cầu triệu tập người làm chứng. Trong thời hạn 05 ngày Ịàm việc, kể từ ngày được phân công, thẩm phán phải ra quyết định triệu tập người làm chứng.

3.4 Áp dụng biện pháp khẩn cẩp tạm thời

Các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

- Đối với Hội đồng trọng tài: theo yêu cầu của một trong các bên, Hội đồng trọng tài có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời đôi với các bên franh chấp. Quy định này cũng được luật trọng tài một số nước ghi nhận như: Luật Trọng tài Đức (Điều 1041); Luật Trọng tài Thụy Sĩ (Điều 183)... Các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Hội đồng trọng tài áp dụng tương tự như các biện pháp khẩn cấp tạm thời được toà án áp dụng đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại toà (khoản 2 Điều 49 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

Trước khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Hội đồng trọng tài có quyền buộc bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thực hiện nghĩa vụ bảo đảm tài chính. Hội đồng trọng tài áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác hoặc vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bên yêu cầu mà gây thiệt hại cho bên yêu cầu, bên bị áp dụng hoặc người thứ ba thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra toà án để yêu cầu giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 50 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Theo yêu cầu của một bên, Hội đồng trọng tài có quyền thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất kì thời điểm nào trong quá trình giải quyết ttanh chấp. Quy định Hội đồng trọng tài có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là điểm mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, làm tăng năng lực giải quyết tranh chấp của trọng tài. Tuy nhiên, vì trọng tài là tổ chức phi chính phủ nên việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với đưomg sự có thể không dễ dàng.

>> Xem thêm:  Phân biệt trọng tài và toà trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế ?

- Đối với toà án: sau khi nộp đơn khởi kiện, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, một bên có quyền làm đơn gửi đến toà án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, Chánh án toà án có thẩm quyền phân công một thẩm phán xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, thẩm phán phải xem xét, quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thẩm phán phải ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu, thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Một bên có quyền yêu cầu toà án thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhân danh quyền lực Nhà nước trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài sẽ khiến việc giải quyết tranh chấp dễ dàng và hiệu quả hơn.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu một trong các bên đã yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời mà lại có đơn yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, toà án phải từ chối và trả lại đơn yêu cầu, trừ trường họp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.

4. Phiên họp giải quyết tranh chấp

Phiên họp giải quyết tranh chấp được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Các bên có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp; có quyền mời người làm chứng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng trọng tài có thể cho phép những người khác tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp. Đây là nguyên tắc xét xử không công khai hay xét xử “kýn” - một ưu điểm của tố tụng trọng tài vì có thể bảo đảm được bí mật, uy tín của các bên.

Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc rời phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội đồng trọng tài chấp thuận bị coi là đã rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp này, Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết tranh chấp nếu bị đơn có yêu cầu hoặc có đơn kiện lại.

BỊ đơn đã được triệu tập họp lệ tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc rời phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội đồng trọng tài chấp thuận thì Hội đồng trọng tài vẫn tiếp tục giải quyết tranh chấp căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có.

Theo yêu cầu của các bên, Hội đồng trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ để tiên hành phiên họp giải quyết tranh chấp mà không cần sự có mặt của các bên. Quy định này khiến Luật Trọng tài thương mại năm 2010 tương thích với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015); luật trọng tài của một số nước như Đức, Anh hay Luật mẫu... Khi có lý do chính đáng, một hoặc các bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp.

Theo yêu cầu của các bên, Hội đồng trọng tài tiến hành hoà giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp. Khi các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài lập biên bản hoà giải thành có chữ ký của các bên và xác nhận của các Trọng tài viên. Hội đồng trọng tài ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Quyết định này là chung thẩm và có giá trị như phán quyết trọng tài. Như vậy, khác với tố tụng toà án thủ tục hoà giải là bắt buộc khi giải quyết tranh chấp, đối với tố tụng trọng tài, thủ tục hoà giải chỉ được tiến hành theo yêu cầu của các bên tranh chấp.

Vụ tranh chấp được đình chỉ giải quyết trong các trường hợp được quy định tại Điều 59 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp, các bên không có quyền khởi kiện yêu cầu trọng tài giải quyết lại vụ tranh chấp đó nếu việc khởi kiện vụ tranh chấp sau không có gì khác với vụ tranh chấp trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định khác.

>> Xem thêm:  Thủ tục áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo luật trọng tài thương mại

Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo nguyên tắc đa số. Trường hợp biểu quyết không đạt đa số, phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Đây là quy định được luật trọng tài hầu hết các nước ghi nhận như: Luật Trọng tài Đửc (Điều 1052), Luật Trọng tài Thụy Sĩ (Điều 189), Luật mẫu (Điều 29)...

Phán quyết trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng. Phán quyết trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày ban hành. Các bên có quyền yêu cầu Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài vụ việc cấp bản sao phán quyết trọng tài. Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Đây là nguyên tắc xét xử một lần - nguyên tắc khiến việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài nhanh gọn, dứt điểm, đảm bảo tốt hon quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Các bên có thể yêu cầu sửa chữa phán quyết trọng tài, giải thích cụ thể phán quyết trọng tài, ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Thủ tục chỉ định, thay đổi trọng tài viên theo quy định mới