1. Tư vấn chính sách hỗ trợ việc làm khi bị nhà nước thu hồi đất ?

Thưa luật sư, Nhà tôi có 5 sào ruộng bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, tôi nghe nói nhà nước có chính sách hỗ trợ cho người dân công việc đi xuất khẩu lao động hoặc bồi thường mất việc làm khi bị thu hồi đất có đúng không ?
Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Người lao động bị thu hồi đất được hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài. Quy định về đền bù hỗ trợ việc làm cho đối tượng bị thu hồi đất.

Ngày 10 tháng 12 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ vừa ký ban hành Quyết định 63/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-2-2016.

Theo đó, người lao động thuộc hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp, được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi và người bị thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ mà phải di chuyển chỗ ở, trong độ tuổi lao động, có nhu cầu đào tạo nghề, giải quyết việc làm sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ trong thời hạn năm năm kể từ ngày có quyết định thu hồi đất.
Người lao động bị thu hồi đất tham gia đào tạo nghề sẽ được hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; được vay vốn theo quy định của chính sách tín dụng với học sinh, sinh viên.

Ngoài ra, người lao động bị thu hồi đất còn được hỗ trợ tư vấn, định hướng nghề nghiệp, giới thiệu việc làm miễn phí tại các trung tâm dịch vụ việc làm; được vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm; được hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Về việc người lao động được hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:

Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được hỗ trợ theo quy định tại Nghị định 61/2015/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm.

Người lao động bị thu hồi đất kinh doanh đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được hỗ trợ như người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp theo quy định trên.

Kinh phí hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được bố trí từ kinh phí đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm và được tính trong tổng kinh phí của dự án đầu tư hoặc phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được duyệt.

Người lao động bị thu hồi đất được vay vốn ưu đãi đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội.

Mức cho vay tối đa bằng tổng chi phí cần thiết mà người lao động phải đóng góp theo quy định để người lao động đi làm việc ở nước ngoài đối với từng thị trường lao động.

Lãi suất bằng lãi suất cho vay đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ do Chính phủ quy định.

Thời hạn cho vay tối đa bằng thời gian đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng.

Người lao động bị thu hồi đất thuộc huyện nghèo được hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo quy định của chính sách hỗ trợ các huyện nghèo.

Người lao động bị thu hồi đất được hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài một lần theo chính sách quy định.

Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 hoặc gửi thư về địa chỉ email để được giải đáp trực tiếp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền cưỡng chế của UBND cấp xã đối với công trình xây dựng trái phép ?

2. Trường hợp nào thì thu hồi đất ?

Kính chào luật sư. Tôi có vấn đề này xin được nhờ luật sư tư vấn giúp.Tôi xin được trình bày sự việc như sau. Ở Hà Tĩnh chúng tôi năm 2004 có tuyển đường Hồ Chí Minh đi qua làm giá đất nơi đây có giá trị. Ở địa phương tôi có khoáng 7 hộ dân dang trực tiếp canh tác trên những thửa ruộng mấy chục năm nay bên con đường này, trước đây có đóng thuế nhưng bây giơ thì không phải đóng thuế nữa.

Bất ngờ tôi thấy địa chính xã và một số người đến đây đo đạc chia lô để bán. Người dân chúng tôi rất bức xúc không hề biết chuyện gì đang xảy ra không hề nhận được thông báo thu hồi nào cả. Vậy luật sư hãy tư vấn giúp tôi việc làm nhu trên có đúng pháp luật hay không? người dân chúng tôi cần phải làm gì? nếu sai thì khiểu nai lên cơ quan có tham quyền như thế nào? được giải quyết nhanh nhất.

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hoàng Hải

Tư vấn chính sách hỗ trợ việc làm khi bị nhà nước thu hồi đất ?

Luật sư tư vấn luật đất đai qua điện thoại gọi:1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, hành vi trên của cán bộ địa chính xã có thực hiện đúng quy định pháp luật không?

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 16 Luật đất đai 2013 quy định:

Điều 16: Nhà nước quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất

1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;

b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;

c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.”

Như vậy, Nhà nước chỉ thu hồi đất trong những trường hợp vì mục đích nhà nước, công cộng, sử dụng đất trái quy định pháp luật hoặc các trường hợp chấm dứt quyền sử dụng đất theo quy định trên và phải có thông báo, quyết định thu hồi theo quy định pháp luật cụ thể theo quy định tại Khoản 1 Điều 67 Luật đất đaI 2013 quy định về trách nhiệm thông báo thu hồi đất như sau:

“1. Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.”

Như vậy, cơ quan Nhà nước sẽ tiến hành điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm đất bị thu hồi trước khi thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Thời hạn thông báo chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp trước khi có quyết định thu hồi đất.

Trong trường hợp của bạn việc cơ quan địa chính xã tiến hành đo đạc, chia lô đất mà không thông báo cho 7 hộ dân biết không phải là hành vi trái pháp luật. Nếu trong thời hạn 90 ngày, trước khi có quyết định thu hồi đất mà cơ quan có thẩm quyền không thông báo 7 hộ dân biết thì hành vi đó sẽ là hành vi vi phạm pháp luật. Khi đó, bạn có quyền khiếu nại hành vi vi phạm này của cơ quan địa xã.

Vì vậy, trước tiên bạn phải xem xét rõ việc địa chính xã đo đạc nhằm mục đích gì, có thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất như Điều 16 Luật đất đai 2013 để có thể xác định hành vi trên của chính quyền xã là đúng hay sai theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, trình tự khiếu nại đối với hành vi hành chính hoặc quyết định hành chính như thế nào?

Theo quy định tại Điều 7Luật khiếu nại 2011:

Điều 7:

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

2. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Như vậy, nếu hành vi của chính quyền xã sau khi đã có thông tin xác nhận hoặc có quyết định hành chính của cơ quan nhà nước xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp trên phần diện tích đất đó của bạn và thì bạn làm đơn khiếu nại lần đầu gửi đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Tham khảo: Mẫu đơn khiếu nại hành chính .

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi, nếu còn thắc mắc gì liên quan đến pháp luật bạn có thể liên hệ theo số hotline: 1900.6162để được hỗ trợ một cách nhanh nhất.

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

3. Quy định về vấn đề tái định cư khi bị thu hồi đất ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một câu hỏi cần tư vấn của công ty về đất đai như sau: Gia đình tôi có 1 thổ cư 100m2 đứng tên mẹ tôi, có sổ đỏ đầy đủ nhưng hiện tại chưa làm nhà ở. Còn gia đình tôi đang ở trên thổ cư đứng tên bố tôi. Vừa qua, nhà tôi bị lấy đất thổ cư chưa có nhà ở để làm khu tái định cư cho dự án làm đường.
Vậy gia đình tôi có được đền bù bằng đất khác trong khu tái định cư hay không hay trả bằng tiền mặt. Trong khi quỹ đất khu tái định cư còn vài ô để dự phòng ?
Rất mong nhận được sự tư vấn của công ty. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

“Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.”

Như vậy, theo như thông tin bạn đưa ra thì gia đình bạn không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận ( do bạn sử dụng đất không đúng mục đích) nên sẽ không đủ điều kiện để được bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất.

Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

3. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thi được Nhà nước bồi thường bằng tiền.

4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

5. Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng tiền đối với phần diện tích đất thu hồi;

b) Trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất hoặc thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng tiền;

c) Đối với dự án đã đưa vào kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng tiền.”

Điều 86 Luật Đất đai 2013 có quy định về việc bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải chuyển chỗ ở như sau:

“1. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư.

Nội dung thông báo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư; dự kiến bố trí tái định cư cho người có đất thu hồi.

2. Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.
Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư.

3. Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

4. Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu.
Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu cho phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương.”

Như vậy nếu trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi mà không còn đất ở, nhà ở nào khác thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162 Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng!

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

4. Mức bồi thường 15% khi thu hồi đất để làm đường đi ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi có mảnh đất rộng 1.900,được xã Nùng Nàng, huyện Tam Đường thu hồi giải tỏa để làm đường đi, với mức chi giải tỏa khoảng 15% thì được bồi thường như thế nào?
Xin cám ơn!
Người gửi: Le

Mức bồi thường 15% khi thu hồi đất để làm đường đi ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 11 Luật Đất đai của Quốc hội, số 45/2013/QH13:

“Điều 11. Căn cứ để xác định loại đất

Việc xác định loại đất theo một trong các căn cứ sau đây:

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trước ngày 10 tháng 12 năm 2009; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

2. Giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;

3. Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;

4. Đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì việc xác định loại đất thực hiện theo quy định của Chính phủ.”

Căn cứ khoản 2 Điều 74 Luật đất đai năm 2013:

“Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.”

Căn cứ khoản 2 Điều 114 Luật đất đai năm 2013:

“2. Bảng giá đất được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp sau đây:

a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân;

b) Tính thuế sử dụng đất;

c) Tính phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai;

d) Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

đ) Tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai;

e) Tính giá trị quyền sử dụng đất để trả cho người tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước đối với trường hợp đất trả lại là đất Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể.

Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp. Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.

Hội đồng thẩm định giá đất gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch và đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất.”

Như vậy để xác định mức bồi thường là bao nhiêu thì cần xác định loại đất và mục đích thu hồi đất và bảng giá đất do UBND cấp tỉnh nơi có đất quy định.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách tính thuế xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật

5. Các trường hợp thu hồi đất và vấn đề bồi thường đất theo quy định của pháp luật ?

Kính gửi luật sư! Do điều kiện gia đình, tôi đang có ý định mua lại ngôi nhà tôi đang thuê, nằm trong diện quy hoạch với diện tích 20m ( đã có sổ đỏ). Mong luật sư tư vấn giúp tôi hai vấn đề tôi đang thắc mắc:
1. Nhà nước có cho phép tôi mua bán mảnh đất trong diện quy hoạch không ?. Nếu có thì tôi có được chuyển đổi chính chủ trên sổ đỏ khi diện tích sử dụng dưới 20m và đang trong diện quy hoạch không ?
2. Ngôi nhà tôi đang ở là ngôi nhà 2 tầng mái ngói, theo thiết kế ngày sưa.
Vậy nếu tôi nằm trong diện thu hồi đất thì áp dụng theo cách tính như thế nào?
Kính mong luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Các trường hợp thu hồi đất, điều kiện được bồi thường đất, mức được hưởng bồi thường và các chi phí hỗ trợ khác. Các vấn đề phá lý liên quan sẽ được luật sư phân tích cụ thể như sau:

Căn cứ quy định tại Luật đất đai năm 2013 như sau:

Điều 49. Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1. Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia.

Thủ tướng Chính phủ phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trên cơ sở các chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia đã được Quốc hội quyết định.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn cấp xã.

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh.

2. Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.... ... ...

Như vậy nếu đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người chủ mảnh đất không thể thực hiện được việc chuyển nhượng cho bạn. Con nếu như chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật trong đó có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bạn. Do đó, khi thực hiện chuyển nhượng thì bạn vẫn được sang tên chính chủ trên giấy chứng nhận sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Mức bồi thường có thể như sau:

" Điều 79. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:

a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;

b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

3. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này".

Thưa luật sư, Tôi có câu hỏi muốn nhờ quý công ty tư vấn ạ: Gia đình tôi có 2 thửa ruộng trong diện thu hồi đất làm dự án. Nhà tôi đã nhận được thông báo chi trả tiền bồi thường và quyết định thu hồi đất, tuy nhiên, do gia đình ko đồng ý với phương án bồi thường ( chưa có phương án bồi thường hoa màu) nên vẫn chưa nhận tiền bồi thường đền bù. Đến nay nhà tôi vẫn chưa nhận được tiền đền bù đất ( sổ đỏ hiện tại nhà tôi vẫn cầm) mà chủ đầu tư đã cho giải phóng mặt bằng trên thửa ruộng nhà tôi. Việc làm này của chủ đầu tư là đúng hay sai ạ? Rất mong sự hồi âm của quý công ty ạ.

=> Căn cứ quy định tại Luật đất đai năm 2013 như sau:

" Điều 67. Thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm.

2. Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất.

3. Người có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

4. Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất".

Pháp luật không quy định phải hoàn thành việc bồi thường đất cho dân mới được tiến hành giải phóng mặt bằng, do đó, việc làm của chủ dầu tư đúng hay sai còn tùy thuộc vào quyết định thu hồi đất, tiến hành giải phóng mặt bằng theo quy định. Nếu gia đình bạn không chấp nhận giá bồi thường thì có thể làm đơn khiếu nại lên UBND quận, huyện nơi có đất. Đồng thời đề nghị UBND huyện giải quyết việc chi trả tiền bồi thường đất cho gia đình bạn.

Xin chào Luật sư, Hộ gia đình chúng tôi trong diện bị thu hồi đất ,nhà trong dự án Cho phép tôi hỏi Luật sư về đền bù và tái định cư và ngoài ra ,nếu chúng tôi đang kinh doanh (thiet bị phụ tùng tại nhà đang ở)mà trong diện phải di rời vì nằm trong dự án , khi được đền bù và giả phòng mặt bằng trả lại đất cho bên dự án ,đã có sự đồng ý của 2 bên( bên dự án và bên phải gi rời) chúng tôi đang kinh doanh trên nhà và mảnh đất đó thì chúng tôi có được hỗ trợ gì không theo luật đền bù ? Xin luật sư giúp đỡ và tư vấn cho chúng tôi Người hỏi Trần văn Thành ,tp Hải phong

=> Trường hợp của bạn nằm trong diện thu hồi đất và nhà ở do đó, được bồi thường theo quy định tại Luật đất đai năm 2013 như sau:

" Điều 79. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:

a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;

b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

3. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 83. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

1. Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:

a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.

2. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;

b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;

c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;

d) Hỗ trợ khác.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Thưa luật sư, Gia đình tôi có 12 thước đất khai hoang từ những năm 1990, có nộp thuế đầy đủ theo quy định, nhưng hiện nay chính quyền xã bảo thu hồi đất để giao cho hộ gia đình khác để làm kinh tế mà không bồi thường bất cứ gì và chúng tôi không đồng ý thì chính quyền lại chuyển mức đóng thuế đất theo đất quỹ hai như vậy có đúng không? Hiện tại chính quyền xã yêu cầu gia đình tôi phải nộp thuế theo đất quỹ hai như vậy có đúng không ? Rất mong Luật sư tư vấn giúp gia đình để giải quyết cho đúng, Xin chân thàng cảm ơn./.

=> Căn cứ quy định tại điều 66 luật đất đai năm 2013 như sau:

" Điều 66. Thẩm quyền thu hồi đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất"

Thẩm quyền thu hồi đất thuộc về UBND cấp huyện và cấp Tỉnh theo quy định trên, UBND xã chỉ có thẩm quyền quản lý đất đai mà không có thẩm quyền thu hồi đất. Do đó, hành vi thu hồi đất giao cho gia đình khác làm kinh tế của UBND xã là trái với quy định của pháp luật. Trường hợp này, gia đình bạn có quyền làm đơn khiếu nại lên UBND huyện nơi có đất hoặc làm đơn khởi kiện ra Tòa án theo quy định của pháp luật. Việc chuyển mức đóng thuế theo quỹ mà UBND xã yêu cầu gia đình bạn phải thực hiện thì bạn có thể làm đơn đề nghị lên chủ tịch UBND xã yêu cầu giải thích hoặc có thể khiếu nại đồng thời lê UBND huyện với quyết định thu hồi đất.

Thưa luật sư, Đơn vị tôi được giao dự án trên đất đã trồng rừng sản xuất băng nguồn vốn chương trình 327 vậy khi thu hồi đất có phải thực hiện lập dự án trồng rừng thay thế theo điều 29 Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/03/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng không? Quý công ty cho biết đối tượng rừng nào khi thu hồi thì phải lập phương án trồng rừng thay thế? rừng trồng sản xuất của hộ gia đình đã được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và đã trồng rừng được 10 năm nay thu hồi có phải lập phương án trồng rừng thay thế không?

=> Điều 29, nghị định 23/2006/NĐ-CP quy định:

" Điều 29. Chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích không phả lâm nghiệp

Các loại rừng được chuyển mục đích sử dụng khác không phải là lâm nghiệp phải thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và theo các quy định sau:

1. Thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng rừng thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định này.

2. Có dự án đầu tư trên diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

3. Có báo cáo đánh giá tác động môi trường do việc chuyển mục đích sử dụng rừng.

4. Có phương án đền bù giải phóng mặt bằng khu rừng và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

5. Cơ quan cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải đảm bảo việc đầu tư trồng rừng mới thay thế diện tích rừng sẽ chuyển sang mục đích sử dụng khác"

Ở đây quy định về các loại rừng, nếu dự án đầu tư của bạn được giao trên đất đã trồn rừng thì phải đảm bảo trồng rừng mới thay thế.

Căn cứ quy định tại thông tư số 26/2015/TT-BNNPTNT quy định như sau:

" Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 06/5/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác

1. Khoản 2, điều 2 được sửa đổi như sau:

“2. Có phương án trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác, với diện tích trồng rừng thay thế ít nhất bằng diện tích rừng chuyển sang mục đích khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; hoặc chứng từ nộp tiền trồng rừng thay thế”.

2. Khoản 1, điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Tổ chức, cá nhân là chủ dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác chịu trách nhiệm tổ chức lập phương án trồng rừng thay thế (sau đây viết tắt là phương án) trình Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phê duyệt. Trường hợp diện tích rừng chuyển sang mục đích khác nằm trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì lập các phương án riêng đối với từng tỉnh.

a) Trường hợp các dự án có vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đã chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trước khi Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 06/5/2013 có hiệu lực thi hành thì không nhất thiết phải xây dựng phương án trồng rừng thay thế riêng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổng hợp danh sách, diện tích phải trồng rừng thay thế của các dự án này, xây dựng 0.1 Phương án trồng rừng thay thế chung trên địa bàn toàn tỉnh, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Phương án lập theo mẫu tại Phụ lục 03 kèm theo Thông tư này.

b) Trường hợp các dự án chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích kinh doanh, chủ dự án không có điều kiện tự tổ chức trồng rừng thay thế mà thực hiện việc nộp tiền để trồng rừng thay thế thì không phải lập phương án trồng rừng thay thế, tổ chức thực hiện theo Khoản 5 Điều này”.

Pháp luật không quy định cụ thể đối tượng rừng nào khi thu hồi thì phải lập phương án trồng rừng thay thế mà quy định chung là các loại rừng.

Rừng trồng sản xuất của hộ gia đình đã được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và đã trồng rừng được 10 năm nay thu hồi vẫn phải lập phương án trồng rừng thay thế.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bồi thường khi di dời địa điểm kinh doanh?