1. Tư vấn xác lập hợp đồng dân sự

- Hợp đồng đặt cọc : đây là một giao dịch dân sự dưới hình thức văn bản, mặc dù nó có trước hợp đồng mua bán hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán nhưng nó vẫn là một giao dịch dân sự độc lập với hợp đồng mua bán. Ví dụ : trong hợp đồng mua bán nhà “giấy tay” có ghi bên mua đặt cọc trước và hẹn ngày ra công chứng ký hợp đồng nhưng vì lý do nào đó công chứng từ chối thì hợp đồng “giấy tay” kia bị vô hiệu nhưng giao dịch đặt cọc vẫn có hiệu lực và bên có lổi bị phạt cọc theo thỏa thuận. Trong thực tế có rất nhiều trường hợp tranh chấp về đặt cọc, sự thiếu hiểu biết những quy định liên quan có thể gây thiệt hại rất lớn trong giao dịch.

- Hợp đồng mua bán nhà : vì đây là một tài sản quan trọng nên pháp luật quy định rất chặt chẽ trong giao dịch với những nội dung và hình thức nhất định. Các hình thức sở hữu nhà ngày càng phong phú đa dạng : nhà chung cư, nhà tập thể, nhà sở hữu chung, nhà thừa kế, và nhất là nhà “không giấy” . . . điều này làm cho các cá nhân tổ chức khi giao mua bán phải nắm vững thông tin và quy định pháp luật nhằm tránh những thiệt hại đáng tiếc xảy ra.

- Hợp đồng mua bán tài sản : những tài sản có giá trị cao thông thường được giao dịch dưới hình thức văn bản, những thỏa thuận trong các điều khoản sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, nó có giá trị pháp lý bắt buộc các bên phải tuân thủ thi hành theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Chính vì vậy, các bên cần xem xét những yếu tố mà trong trường hợp nếu có xảy ra tranh chấp thì thiệt hại được hạn chế ở mức thấp nhất.

- Hợp đồng vay tài sản : là loại hợp đồng thông dụng nhất hiện nay, tài sản vay chủ yếu là tiền và điều này làm phát sinh nhiều vấn đề liên quan phức tạp khi tranh chấp xảy ra. Thứ nhất là không tìm được người vay khi họ mất khả năng thanh toán, thứ hai là lãi suất thường cao hơn nhiều lần so với quy định, thứ ba là rất dễ phát sinh những quan hệ pháp luật khác trong quá trình tranh chấp như cãi vã, bạo lực, đòi nợ bất hợp pháp . . . gây ra nhiều thiệt hại không thể lường trước được.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

2. Bồi thường thiệt hại đối với giao dịch dân sự

- Trong giao dịch dân sự hàng ngày, mặc dù không có thỏa thuận dưới dạng hợp đồng nhưng chúng ta vẫn phải bồi thường thiệt hại do chính chúng ta gây ra từ những lỗi vô ý hay cố ý. Ví dụ như : gây tai nạn giao thông, đánh nhau . . .

- Thiệt hại bao gồm : tài sản, sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, danh dự, uy tín. Để xác định mức thiệt hại cụ thể không đơn giản, thông thường dựa trên thỏa thuận giữa các bên, nếu không thỏa thuận được thì sẽ phát sinh tranh chấp.

- Để bảo vệ quyền lợi của mình, bên thiệt hại cần xác định cụ thể thiệt hại thực tế xảy ra, mức độ thiệt hại quy thành tiền. Tuy nhiên cũng phải xem xét hoàn cảnh, khả năng của người gây thiệt hại để có mức thương lượng hợp lý nhằm đảm bảo sự bồi thường nhanh chóng, cần thiết, hạn chế thưa kiện kéo dài.

3. Xác lập và phân chia thừa kế tài sản

- Khi một người chết đi, tài sản của người đó sẽ được để lại cho những người còn sống gọi là thừa kế. Như vậy, thừa kế là vấn đề phổ biến trong đời sống hàng ngày của con người, rất dễ phát sinh những tranh chấp di sản vì quyền thừa kế được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt.

- Thừa kế theo di chúc : là việc một người muốn chuyển tài sản của mình cho một người khác cụ thể sau khi chết. Di chúc phải hợp pháp đúng theo quy định củ pháp luật, người nhận di sản theo di chúc có quyền xác lập quyền sở hữu tài sản bằng các thủ tục hành chính liên quan.

- Thừa kế theo pháp luật : là việc người chết không để lại di chúc thì di sản sẽ được phân chia theo quy định pháp luật về thừa kế. Chính vì vậy, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, việc xác định hàng thừa kế của mình rất cần thiết từ đó xác định phần có thể được hưởng để thương lượng hoặc tranh chấp di sản thừa kế.

4. Phân loại giao dịch dân sự hiện nay

Các giao dịch dân sự trên thực tế rất đa dạng, phong phú. Dựa trên mỗi tiêu chí khác nhau, giao dịch dân sự được phân thành các loại các nhau như căn cứ vào tiêu chí chủ thể, giao dịch dân sự được phân thành họp đồng và hành vi pháp lý đơn phương; hay căn cứ vào hình thức của giao dịch, giao dịch được phân thành giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức lời nói, giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức văn bản và giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức hành vi; hay căn cứ vào tính chất có đền bù của giao dịch dân sự, giao dịch dân sự được phân thành giao dịch dân sự có đền bù và giao dịch dân sự không có đền bù. Ngoài ra, trong khoa học pháp lý còn xác định loại giao dịch có điều kiện mà sau đó được luật hoá trong luật. Bộ luật Dân sự hiện hành còn quy định về giao dịch dân sự có điều kiện ở Điều 120.

Căn cứ vào chủ thể: Dựa trên tiêu chí ý chí của chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự mà giao dịch được phân thành hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương. Cách thức phân loại này được dùng để đưa ra định nghĩa về giao dịch dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 116.

Hợp đồng. Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Như vậy, số lượng chủ thể trong hợp đồng tối thiểu phải là hai bên. Hợp đồng hai bên được gọi là hợp đồng song phương; họp đồng có nhiều hơn hai bên chủ thể như hợp đồng ba bên được gọi là hợp đồng đa phương. Thỏa thuận là cơ sở bắt buộc để hình thành họp đồng. Không có yếu tố thỏa thuận giữa các bên chủ thể thì họp đồng không được xác lập. Yếu tố thỏa thuận vừa là nguyên tắc, vừa là đặc trưng của hợp đồng. Trong mọi quá trình từ lúc giao kết, đến giai đoạn thực hiện và chấm dứt hợp đồng đều có yếu tố thỏa thuận giữa các bên chủ thể. Neu hợp đồng được hình thành mà không phải là kết quả của sự thỏa thuận như chủ thể bị đe dọa, cưỡng ép giao kết hợp đồng thì hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu.

Hiện nay các hợp đồng được xác lập phong phú, đa dạng bao gồm các nhóm chính: hợp đồng có đối tượng là tài sản (hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng thuê tài sản...) và hợp đồng có đối tượng là công việc (hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng gia công.:.). Thỏa thuận là yếu tố bắt buộc để hình thành hợp đồng nhưng không phải mọi sự thỏa thuận đều được công nhận là hợp đồng. Để thỏa thuận giữa các bên được xác định là hợp đồng thì cần gắn với hậu quả pháp lý nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Ví dụ: Hợp đồng thuê nhà ở được xác lập dựa trên sự thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê. Hợp đồng thuê nhà ở làm phát sinh cả quyền và nghĩa vụ cho bên cho thuê và bên thuê tài sản.

Hành vi pháp lí đơn phương. Hành vi pháp lý đơn phương là sự thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Khác với hợp đồng cần ít nhất hai bên chủ thể thì hành vi pháp lý đơn phương được xác lập khi có sự tuyên bố ý chí của một bên chủ thể. Đê hình thành hợp đồng cần có yếu tố thỏa thuận nhưng để hình thành hành vi pháp lý đơn phương thì chỉ cần một bên thể hiện ý chí, tự đưa ra các quyền và nghĩa vụ cho mình và hướng tới việc tiếp nhận ý chí của chủ thể khác. Các hành vi pháp lý đơn phương phổ biến trên thực tế như lập di chúc, hứa thưởng, thi có giải. Ví dụ: Ông A có ba người con. Trước khi chết ông A lập di chúc để lại toàn bộ số tiền 3 tỷ đồng chia đều cho 3 con. Như vậy, việc ông A lập di chúc là hành vi pháp lý đơn phương nhằm làm phát sinh quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc cho các con của ông. Hành vi pháp lý đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất như một cá nhân lập di chúc định đoạt tài sản của mình hoặc có nhiều chủ thể cùng tham gia một bên của hành vi pháp lý đơn phương như bố mẹ cùng tuyên bố hứa thưởng cho các con... Chủ thể xác lập hành vi pháp lý đơn phương có thể đưa ra điều kiện hoặc không đưa ra điều kiện. Như trường họp lập di chúc, người lập di chúc chỉ thể hiện việc định đoạt tài sản cho con cháu sau khi chết mà không đặt ra điều kiện với con, cháu phải thực hiện để được nhận di sản thừa kế. Tuy nhiên, với trường hợp hứa thưởng, thi có giải, bên đưa ra tuyên bố hứa thưởng, bên tổ chức thi có giải đặt ra các điều kiện mà chủ thể nào phải thực hiện được những điều kiện đó thì mới nhận được phần thưởng hoặc giải thưởng. Neu hợp đồng cần một quá trình đàm phán, thỏa thuận để đi đến thống nhất ý chí và không phải trong mọi trường hợp các bên đều thống nhất được với nhau để hợp đồng được xác lập thì với hành vi pháp lý đơn phương, chủ thể hoàn toàn chủ động trong việc đưa ra các nội dung của giao dịch một cách nhanh chóng.

Căn cứ vào tính có đền bù của giao dịch. Thông thường, lợi ích là yếu tố thúc đẩy các bên xác lập giao dịch với nhau. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp các giao dịch dân sự đều có sự đền bù về lợi ích vật chất giữa các bên chủ thể. Do đó, dựa trên yếu tố đền bù mà giao dịch được phân thành giao dịch dân sự có đền bù và giao dịch dân sự không có đền bù.

Giao dịch dân sự có đền bù. Là giao dịch dân sự trong đó các bên chủ thể tham gia đều nhận được lợi ích vật chất của nhau. Theo đó, một bên trao cho bên kia một lợi ích vật chất thì họ cũng nhận lại được một lợi ích vật chất khác từ phía chủ thể kia. Các giao dịch dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 chủ yếu thuộc nhóm giao dịch dân sự có đền bù như: giao dịch mua bán tài sản, giao dịch trao đổi tài sản...Trong giao dịch mua bán, bên bán nhận được số tiền thanh toán từ bên mua; còn bên mua nhận được tài sản từ bên bán.

Giao dịch dân sự không có đền bù. Là giao dịch dân sự trong đó chỉ có một bên chủ thể nhận được lợi ích vật chất, bên còn lại không nhận một lợi ích nào. Ví dụ: Lập di chúc là hành vi pháp lý đơn phương không mang tính đền bù; hợp đồng tặng cho tài sản; hợp đồng mượn tài sản. Trong hợp đồng mượn tài sản chỉ có bên mượn tài sản nhận được tài sản và khai thác tài sản trong một thời hạn nhất định còn bên cho mượn tài sản không nhận được lợi ích vật chất nào từ bên mượn tài sản.

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương. Do đó, hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương cũng được phân theo nhóm hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương có đền bù hoặc hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương không có đền bù. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ hơp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù được sử dụng phổ biến và được ghi nhận trong luật. Tuy nhiên, thuật ngữ hành vi pháp lý đơn phương có đền bù và hành vi pháp lý đơn phương không có đền bù ít được sử dụng hơn. Ví dụ: lập di chúc là hành vi pháp lý đơn phương không mang tính chất đền bù vì người lập di chúc không có lợi ích vật chất gì khi xác lập hành vi pháp lý đơn phương này. Ngược lại, giả sử A tuyên bố ai nhặt được ví tiền của A và trả lại thì A thưởng cho 2 triệu đồng. Trong trường hợp này, A và người nhặt được ví của A đều có lợi ích trong giao dịch.

Căn cứ vào hình thức thể hiện giao dịch. Hình thức là phương tiện để các bên thể hiện ý chí của mình ra bên ngoài cũng như để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng. Neu các ý định giao kết giao dịch của các bên chỉ tồn tại dưới dạng “ý nghĩ’ thì cũng không có giao dịch được hiện thực hóa trên thực tế. Hình thức của giao dịch dân sự là yếu tố giúp đối tác cũng như các chủ thể khác biết được nội dung của giao dịch đã xác lập. Trong tố tụng, hình thức của giao dịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng - đây là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã tồn tại giữa các bên, là căn cứ đế giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện giao dịch. Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói. Là những giao dịch được giao kết dưới hình thức ngôn ngữ nói, bằng lời hay còn gọi là họp đồng miệng. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói chiếm số lượng lớn trong các giao dịch hàng ngày. Giao dịch dân sự được xác lập theo hình thức lời nói thường được xác lập trong các trường hợp gồm: (i) Giá trị của giao dịch dân sự nhỏ: các giao dịch phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày như mua đồ ăn, thức uống, quần áo, đồ dùng học tập thường được thể hiện bằng lời nói; (ii) Các giao dịch dân sự được xác lập giữa những người có mối quan hệ thân quen, tin tưởng lẫn nhau. Như bố mẹ cho con cái vay tiền hay anh chị em, bạn bè cho nhau vay tiền...Giá trị của những giao dịch này có thể lớn nhung các bên vẫn xác lập theo hình thức miệng vì tin tưởng vào sự thực hiện và tuân thủ của đối phương; (iii) Các giao dịch dân sự có thời gian thực hiện ngắn, kết thúc nhanh. Như trường hợp mua bán vàng, đá quý...giá trị của giao dịch có thể lớn nhung thời gian từ khi xác lập giao dịch tới khi kết thúc diễn ra nhanh chóng, ít có tranh chấp phát sinh nên các bên cũng thường lựa chọn hình thức lời nói để giao kết. Như vậy, thường những giao dịch dân sự này thường được diễn ra hàng ngày, lặp đi lặp lại, thời gian thực hiện ngắn, kết thúc nhanh và giá trị giao dịch không lớn được các bên giao kết bằng hình thức lời nói.

Giao dịch dân sự được xác lập bằng hình thức lời nói có ưu điểm là việc giao kết diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí thực hiện giao dịch. Tuy nhiên, vì bằng hình thức lời nói nên nội dung của giao dịch không được ghi nhận bằng một hình thức vật chất. Do đó, trường hợp phát sinh tranh chấp giữa các bên chủ thể trong giao dịch thì việc giải quyết tương đối phức tạp.

Thông thường, luật không quy định điều kiện hay quy trình khắt khe khi giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói. Tuy nhiên, có trường hợp giao dịch dân sự thể hiện bằng hình thức lời nói phải bảo đảm tuân thủ những điều kiện luật định mới có giá trị. Ví dụ: Đối với việc lập di chúc bằng hình thức miệng. Theo Điều 629, Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Giao dịch dân sự được thể hiện bằng văn bản. Là cách thức các bên chủ thể thể hiện nội dung của giao dịch dân sự thông qua chữ viết trên các phưong tiện truyền thống như giấy, gỗ, đá hoặc bằng hình thức văn bản điện tử...Đây là hình thức mà ý chí của các bên được thể hiện rõ ràng và chính xác nhất. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng văn bản gồm: Một là, giao dịch dân sự thể hiện bằng văn bản thường. Đây là loại văn bản không cần các thủ tục công chứng, chứng thực, đăng kí. Đối với trường hợp này chỉ cần sự xác lập của các bên giao kết họp đồng thông qua việc ký hoặc điểm chỉ; Hai là, giao dịch dân sự thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng kí. Đối với hình thức văn bản này, ngoài việc các bên chủ thể trong hợp đồng ký hoặc điểm chỉ thì cần sự xác nhận của các cơ quan, tổ chức khác thông qua thủ tục công chứng, chứng thực hoặc đăng ký.

Họp đồng - một dạng giao dịch dân sự phổ biến - được thể hiện bằng hình thức văn bản trong hai trường hợp sau đây: Một là, giao dịch dân sự phải được lập thành văn bản do pháp luật quy định. Đối với một số loại giao dịch nhất định, vì tầm quan trọng, do giá trị lớn hoặc xuất phát từ một nguyên nhân nhất định mà luật quy định hình thức bắt buộc. Các trường hợp này, khi các bên xác lập giao dịch thì bắt buộc phải tuân thủ theo hình thức do luật định. Neu các bên không xác lập giao dịch dân sự theo hình thức do luật định thì giao dịch có thể bị vô hiệu. Ví dụ: Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật. Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. Hay theo Điều 504 năm 2015 thì hợp đồng họp tác phải được lập thành văn bản; Hai là, do các bên thỏa thuận giao kết giao dịch dân sự bằng hình thức văn bản. Đây là trường họp luật không quy định hình thức văn bản của giao dịch nhưng các bên thỏa thuận xác lập giao dịch dân sự bằng văn bản. Trên thực tế cũng phát sinh nhiều trường họp mặc dù luật không quy định bắt buộc nhung các bên vẫn thỏa thuận lập giao dịch bằng hình thức văn bản vì độ xác thực, rõ ràng của loại hình thức này. Đặc biệt, nếu trong quá trình thực hiện giao dịch mà phát sinh tranh chấp giữa các bên thì hình thức văn bản của giao dịch là bằng chứng quan trọng để các bên cũng như cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Ví dụ: Bộ luật Dân sự hiện hành không quy định hình thức bắt buộc của hợp đồng vay tài sản nhưng các bên trong họp đồng vay thường lập hợp đồng này bằng hình thức văn bản.

Trước đây, giao dịch dân sự được thể hiện bằng văn bản thường được hiểu theo cách thức truyền thống là giao dịch dân sự được thể hiện trên các chất liệu như giấy, vải, tre, gỗ... Hiện nay, với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ, giao dịch dân sự còn được thể hiện thông qua các phương tiện điện tử. Theo đó, giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản. Với sự hỗ trợ của các phương tiện điện tử, các giao dịch dân sự được xác lập một cách thuận tiện, nhanh chóng, tiết kiệm chi phí đi lại đặc biệt với những trường hợp chủ thể giao kết giao dịch ở khoảng cách xa.

Giao dịch dân sự bằng hình thức văn bản thường được xác lập khi giá trị của giao dịch lớn; các bên chủ thể không có sự quen biết; giao dịch mang tính chất phức tạp, có hiệu lực kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Việc ký kết bằng văn bản có khả năng bảo vệ quyền lợi của các bên một cách tốt nhất.

Giao dịch dân sự được thể hiện bằng hành vi. Hành vi là hành động, là xử sự có ý thức của con người. Thông thường, hình thức hợp đồng bằng hành vi được sử dụng khi bên giao kết giao dịch đã biết rõ nội dung của giao dịch và chấp nhận tất cả các điều kiện mà bên kia đưa ra. Ngày nay, trong thời đại của khoa học, công nghệ thì giao dịch được xác lập bằng hành vi thường là những giao dịch được xác lập, thực hiện có sự hỗ trợ của các phương tiện, máy móc hiện đại. Trong suốt quá trình xác lập, thực hiện giao dịch, chỉ có một bên thực hiện giao dịch bằng những hành động, cử chỉ. Ví dụ: Hành vi đặt xe grabcar, mua hàng trong siêu thị, hoặc mua hàng tại các máy bán hàng tự động, rút tiền tại ATM... Hình thức hành vi là hình thức giản tiện nhất của giao dịch. Với hình thức bằng hành vi, giao dịch dân sự được xác lập nhanh chóng, hiệu quả vì trong một khoảng thời gian, giao dịch dân sự có thể được xác lập với số lượng lớn mà các bên trong giao dịch không cần phải gặp gỡ, thỏa thuận trao đổi. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ thì ngày càng nhiều các giao dịch dân sự được thể hiện bằng hình thức hành vi.

Theo nguyên tắc chung, trường hợp luật không quy định hình thức bắt buộc của giao dịch thì các bên được lựa chọn hình thức xác lập giao dịch bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi. Còn trường họp luật quy định giao dịch dân sự phải được lập thành văn bản hoặc văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì các bên cần tuân thủ theo quy định của luật.

Hình thức của giao dịch dân sự có nhiều ý nghĩa quan trọng. Hình thức của giao dịch dân sự là phương tiện giúp các bên biểu đạt ý chí của mình ra bên ngoài; hình thức của giao dịch dân sự là một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nếu luật có quy định; hình thức của giao dịch dân sự trong một số trường họp là căn cứ xác định thời điểm có hiệu lực của giao dịch dân sự...

Giao dịch dân sự có điều kiện. Thông thường, một giao dịch dân sự được xác lập họp pháp thì sẽ phát sinh hiệu lực. Khi đó, các chủ thể trong giao dịch phải thực hiện các nội dung mà họ đã thống nhất trong giao dịch. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các bên chủ thể trong giao dịch đặt ra những điều kiện nhất định để quyết định đến hiệu lực của giao dịch. Do đó, giao dịch dân sự có điều kiện được hiểu là giao dịch mà hiệu lực của nó phát sinh hoặc huỷ bỏ phụ thuộc vào sự kiện nhất định. Khi sự kiện là điều kiện của giao dịch xảy ra thì giao dịch phát sinh hoặc huỷ bỏ.

Điều kiện của giao dịch dân sự do các bên chủ thể trong giao dịch thỏa thuận hoặc do một bên đặt ra trong hành vi pháp lý đơn phương. Đó phải là sự kiện thuộc về tương lai, sự kiện đó chưa xảy ra tại thời điểm hình thành giao dịch dân sự. Sự kiện đó phải phát sinh một cách khách quan - sự kiện đó xảy ra hay không xảy ra không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong giao dịch và phải hợp pháp.

Dựa trên hậu quả pháp lý khi điều kiện xảy ra mà điều kiện của giao dịch bao gồm:

Một là, điều kiện phát sinh giao dịch. Đây là giao dịch đã được xác lập nhưng chỉ phát sinh hiệu lực khi có sự kiện được coi là điều kiện của giao dịch dân sự xảy ra. Điều kiện này đã được các bên thỏa thuận khi xác lập giao dịch dân sự. Ví dụ: A ký hợp đồng thuê nhà của B thời hạn thuê là 4 năm nếu A đỗ Đại học Luật Hà Nội. Trường hợp này nếu A đỗ Đại học Luật Hà Nội thì hợp đồng thuê nhà phát sinh hiệu lực pháp luật.

Hai là, điều kiện làm hủy bỏ giao dịch. Giao dịch dân sự có điều kiện huỷ bỏ là giao dịch được xác lập và phát sinh hiệu lực nhưng khi có sự kiện là điều kiện giao dịch xảy ra thì giao dịch bị huỷ bỏ. Ví dụ: A cho B thuê nhà với điều kiện nếu A bán nhà thì hợp đồng thuê nhà chấm dứt. Đây là trường hợp các bên chủ thể trong giao dịch thỏa thuận về điều kiện hủy bỏ giao dịch. Theo đó, nếu điều kiện “bán nhà” xảy ra thì hợp đồng thuê nhà giữa A và B chấm dứt.

Trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên thì coi như điều kiện đó đã xảy ra. Ngược lại, trường hợp có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một bên cố ý thúc đẩy cho điều kiện xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra.

Giao dịch dân sự có điều kiện và điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là những vấn đề khác nhau. Giao dịch dân sự có điều kiện là giao dịch mà việc phát sinh hay hủy bỏ hiệu lực phụ thuộc vào điều kiện nhất định. Còn điều kiện có hiệu lực của giao dịch là những yêu cầu đặt ra đối với giao dịch dân sự để giao dịch dân sự có hiệu lực (xem Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015). Giao dịch dân sự có điều kiện cũng phải thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mới có hiệu lực pháp luật.

5. Dịch vụ của Công ty luật Minh Khuê :

- Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí cho mọi đối tượng.

- Đại diện theo ủy quyền tiến hành đàm phán, thương lượng, tranh chấp.

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự.

Thù lao luật sư được thỏa thuận theo vụ việc và được ghi cụ thể trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

-------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT LIÊN QUAN:

1. Tư vấn soạn thảo hợp đồng;

2. Dịch vụ trước bạ sang tên nhà đất;

3. Tư vấn thừa kế quyền sử dụng đất;

4. Dịch vụ công chứng sang tên sổ đỏ;

5. Dịch vụ công chứng uy tín, chuyên nghiệp;

6. Dịch vụ soạn thảo và công chứng hợp đồng;