1. Tư vấn quyền lợi của phụ nữ khi chia tài sản chung ?

Chào luật sư! Cho em hỏi là: Quyền lợi của người phụ nữ trong trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn được thể hiện như thế nào ?
Em xin chân thành cảm ơn.

Tài sản chung sau ly hôn được phân chia như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Thực tế theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình không có sự tách biệt riêng rẽ giữa quyền lợi về tài sản của người vợ và người chồng khi ly hôn mà chỉ quy định chung về quyền lợi này dựa trên nguyên tắc về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn, cụ thể căn cứ theo Khoản 5 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

>> Đối với trường hợp này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn?

>> Xem thêm:  Nộp đơn xin ly hôn tại nơi tạm trú có được không ? Thủ tục thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn ?

2. Xác định tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê. Quý công ty cho tôi hỏi về trường hợp của tôi như sau: Tôi ở Quảng Nam lấy vợ ở Đà Nẵng. Kết hôn năm 2006, Sau khi kết hôn vợ chồng tôi thuê trọ ở Đà Nẵng. Năm 2010 vợ chồng tôi Mua 1.500 mét vuông đất nông nghiệp ở Đà Nẵng. Vợ chồng tôi thỏa thuận Nhờ cha mẹ đứng tên giùm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nhưng không có thỏa thuận khác kèm theo).
Năm 2014 tôi yêu cầu cha mẹ vợ sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi nhưng ông không đồng ý. Sau đó tôi viết đơn kiến nghị gửi đến Ủy ban nhân dân xã nơi cha mẹ vợ cư trú giải quyết việc cha mẹ vợ không đồng ý sang tên quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi. Khi Ủy ban nhân dân xã mời cha mẹ vợ đến giải quyết hòa giải theo đơn kiến nghị của tôi thì ông trả lời như sau: 1.500 mét vuông đất ruộng đó ông đứng dùm cho con gái và con rể muốn ông sang tên quyền sử dụng đất thì phải trả cho ông 20 triệu đồng tiền nợ. Nói rồi ông ký vào biên bản hòa giải. Tôi cũng ký vào biên bản hòa giải. trong biên bản hòa giải cũng có ghi câu nói này của ông. Thành phần của Ủy ban xã tham dự có: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, Chủ tịch mặt trận xã, Chủ tịch Hội phụ nữ xã, Trưởng phòng địa chính xã, Chủ tịch hội nông dân xã, Trưởng công an xã, Đại diện văn hóa xã.
Đại diện Tổ tiếp nhận hồ sơ công dân xã, Đại diện Đoàn thanh niên xã. Sau đó tôi bàn bạc với vợ trả số nợ nói trên cho cha mẹ vợ để được sang tên quyền sử dụng đất. Nhưng vợ tôi không đồng ý rồi viết đơn ly hôn gửi tới tòa án nơi chúng tôi đăng ký tạm trú. Trong đơn ly hôn vợ tôi không thừa nhận số nợ trên. Vợ tôi cũng không thừa nhận diện tích đất nông nghiệp đó là tài sản chung mà nói là đất của cha mẹ vợ không liên quan đến vợ tôi . Khi tòa án mời cha mẹ vợ đến với tư cách là người liên quan. Thẩm phán tòa án hỏi ông là: 1500 mét vuông đất nông nghiệp này là của ai thì ông trả lời là của ông, biên bản hòa giải đó không có giá trị .
Vậy luật sư cho tôi biết theo biên bản hòa giải mà cha mẹ vợ đã ký thì diện tích đất nông nghiệp đó có phải là tài sản chung của vợ chồng tôi không ? Số tiền nợ mà tôi đã ký trong biên bản hòa giải là nợ riêng của tôi hay là nợ chung của vợ chồng tôi?
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Chào bạn, với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Tải sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Luật đất đai năm 2013 như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Bản chất của mảnh đất, căn nhà mà cha, mẹ vợ bạn đứng tên là do vợ, chồng bạn bỏ tiền ra mua. Nhưng về pháp lý, cha mẹ vợ bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hiện tại, nhà nước sẽ bảo vệ quyền, lợi ich của cha, mẹ vợ bạn. Bạn chỉ còn cách khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện - nơi có đất để kiện đòi lại đất. Quý khách chuẩn bộ một bộ hồ sơ gồm:

- Đơn khởi kiện;

- Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã. Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân là chứng cứ chứng minh sự thừa nhận của bố, mẹ vợ về việc đứng tên hộ vợ, chồng quý khách.

Về khoản nợ trị giá 20 triệu mà bố vợ bạn yêu cầu thực hiện: Bạn không nêu rõ khoản nợ này là do bạn vay, mượn hay do vợ chồng bạn vay, mượn hay chỉ là yêu cầu của bố vợ bạn. Nếu số tiền đó là do quý bạn mượn bố vợ và bạn sử dụng vào mục đích riêng không vì gia đình thì đó là nghĩa vụ riêng mà bạn phải tự mình thực hiện. Nhưng nếu đó là do vợ chồng bạn vay hoặc do bạn vay để dùng cho gia đình thì nghĩa vụ trả nợ là của hai vợ chồng.

>> Xem thêm:  Tại sao phải hòa giải khi Ly Hôn ? Không hòa giải có được không ?

3. Tài sản chung sau ly hôn được phân chia như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và vợ tôi chung sống với nhau được 3 năm có sở hữu cùng đứng tên một ngồi nhà và một mảnh đất. Hiện tại vợ chồng tôi không sống chung với nhau được nữa và quyết định ly hôn. Luật sư cho tôi hỏi khối tài sản đó chúng tôi giải quyết như thế nào có phải chia đôi không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về chia tài sản chung, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Trong trường hợp này, tài sản chung do vợ chồng thống nhất gồm: một ngôi nhà và quyền sử dụng mảnh đất

Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.

Về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn, tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.…"

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, xét thấy:

- Yêu cầu của người vợ: là không muốn phân chia quyền sở hữu ngôi nhà trên đất và quyền sử dụng đất. Khi ly hôn, nếu không tự thỏa thuận được, Tòa sẽ giải quyết theo nguyên tắc chia đôi. Về giá trị chuồng trại, tuy được xây dựng trên phần đất của bố mẹ nhưng vẫn do công sức đóng góp, tạo lập của cả hai vợ chồng nên trường hợp này người vợ vẫn có một phần trong đó.

- Tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, chỉ đứng tên một người, người đó không chứng minh được tài sản riêng như tặng cho riêng, thừa kế riêng, hình thành từ nguồn tài sản riêng thì vẫn được xác định là tài sản chung vợ chồng. Khi ly hôn về nguyên tắc sẽ được chia đôi có tính đến công sức đóng góp của các bên.

Khi có yêu cầu của Tòa án, người chồng phải làm một bản trình bày gửi lên Tòa án nói rõ về nguồn gốc các loại tài sản của hai vợ chồng được hình thành trong thời kì hôn nhân. Bản trình bày trên người chồng có thể tự viết và không cần xác nhận của xã (phường).

>> Xem thêm:  Sau cuộc ly hôn đau đớn phụ nữ có nên tái lập hôn nhân hay không ? Cách thắp lửa tình yêu sau khi đổ vỡ hôn nhân ?

4. Quy định về thủ tục, hồ sơ khởi kiện chia tài sản chung ?

Chào công ty luật Minh Khuê, thưa luật sư hiện nay tôi đang thắc mắc về vấn đề liên quan tới chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân xin luật sư tư vấn giúp tôi. Anh Đăng (sn 12/01/1980) và chị Vân (sn 03/07/1981). Sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2004 tại phường 5, quận 6 thành phố TH nhưng không đăng ký kết hôn.
Năm 2005, hai anh chị có với nhau một con chung. Tính đến năm 2013, hai người có khối tài sản chung trị giá 800 triệu đồng (do chị Vân quản lý). Đầu năm 2013, quan hệ giữa anh Đăng và chị Vân mâu thuẫn trầm trọng do anh Đăng có mối quan hệ với chị Phượng - láng giềng. Anh Đăng đã bàn với chị Phượng chuyển đến địa phương khác sống chung. Tại UBND xã KL, huyện NĐ, tỉnh NA nơi chị Phượng đăng ký tạm trú, anh Đăng, chị Phương đã đăng ký kết hôn và họ được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08/03/2014. Hai người có 1 con chung và cùng tạo dựng được khối tài sản chung trị giá 400 triệu đồng. Từ khi chung sống với chị Phượng anh Đăng không quan tâm và không chu cấp tiền hỗ trợ chị Vân nuôi con. Tháng 3 năm 2015, anh Đăng và chị Phượng gặp khó khăn về kinh tế, cần vốn đầu tư để mở cửa hàng nên anh Đăng quay lại đòi chị Vân chia tài sản. Anh Đăng yêu cầu được hưởng 600 triệu đồng từ tài sản chung 800 triệu đồng mà chị Vân quản lý với lý do anh Đăng làm việc vất vả hơn, có công sức đóng góp nhiều hơn nên phải được nhiều tài sản hơn. Chị Vân không đồng ý vì cho rằng 2 người có công sức như nhau trong việc tạo ra tài sản. Chị Vân đã khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết chia lại tài sản và yêu cầu anh Đăng chu cấp tiền nuôi con hàng tháng.
Mong luật sư hãy cho tôi biết trình tự thủ tục, hồ sơ khởi kiện bao gồm những giấy tờ gì và thời hạn khởi kiện với thẩm quyền giải quyết của tòa án nào ?
Tôi cảm ơn nhiều ạ!

Quy định về trình tự thủ tục, hồ sơ và thời hạn khởi kiện chia tài sản chung ?

Luật sư tư vấn trực tuyến về chia tài sản, gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

- Ly hôn nhưng không có giấy đăng ký kêt hôn :

+ Trường hợp sống chung từ ngày 03 tháng 1 năm 1987 đến nay mà không có đăng ký kết hôn:

Căn cứ pháp lý: Điểm b và điểm c Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 của quốc hội về thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Nam và nữ chung sống với nhau từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 2 năm kề từ ngày Luật hôn nhân gia đình có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003, trong thời hạn này mà không có đăng ký kết hôn, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa sẽ thụ lý giải quyết theo Luật hôn nhân gia đình năm 2000 nhưng sẽ ra quyết định không công nhận là vợ chồng.

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi nam và nữ sống chung với nhau mà không đăng ký kết hôn đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng Khoản 2 và khoản 3 điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết ( nghĩa là yêu cầu về con và tài sản sẽ được Tòa án giải quyết như đối với trường hợp ly hôn thông thường.

Căn cứ vào quy định trên thì với trường hợp của anh chị đã chung sống với nhau từ năm 2004 mà không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận là vợ chồng và khi yêu cầu về giải quyết về con và tài sản thì tòa án sẽ áp dụng khoản 2 và khoản 3 điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết .

* Hồ sơ ly hôn bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn;

+ Giấy xác nhận của địa phương về quá trình chung sống của 2 người;

+ Chứng minh nhân dân của vợ, chồng;

+ Giấy khai sinh của con chung (bản sao có công chứng);

+ Giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản (trong trường hợp vợ chồng có yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ chồng).

Cần lưu ý là chưa giải quyết về tài sản chung khác với việc đã tuyên bố không có tài sản chung. Nếu trong bản án, quyết định về ly hôn đã có phần quyết định là vợ chồng không có tài sản chung thì không thể thụ lý, giải quyết chia taì sản chung nếu phần quyết định không có tài sản chung chưa bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

* Thẩm quyền giải quyết ly hôn:

Hai bên có quyền thỏa thuận, lựa chọn nộp đơn kiện tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết: TAND quận (huyện) nơi cả 2 bên hoặc một trong các bên có hộ khẩu thường trú, tạm trú; nếu 2 bên có hộ khẩu thường trú ở 2 nơi khác nhau thì đơn kiện sẽ nộp tại TAND quận (huyện) nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú, tạm trú (điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS) giải quyết.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Chia tài sản chung là đất đai của vợ chồng khi ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và chồng lấy nhau từ tháng 10/2014. Tháng 7/2015 chúng tôi có xây nhà trong Bình Dương nhưng đất chưa có thổ cư nên chúng tôi không thể làm sổ đỏ. Năm 2017 chồng tôi bán nhà để về Bắc Giang mua đất.
Đất hiện tại chỉ mang tên một mình chồng tôi do tôi đợt mua đất đang đi làm ăn xa. Nay nếu tôi ly hôn thì đó có được coi là tài sản chung của vợ chồng không? Hiện tại vợ chồng tôi chưa cắt khẩu ra riêng thì nếu ly hôn tài sản đó chia như thế nào ạ?
Em cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Căn cứ Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì Trong trường hợp vợ chồng khi ly hôn thì việc chia tài sản khi ly hôn theo các nguyên tắc sau:

''1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
''

Như vậy, để phân chia tài sản khi ly hôn phải xác định được tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng. Theo đó Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể như sau:

+ Tài sản chung của vợ chồng:

- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

+ Tài sản riêng của vợ, chồng:

- Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Theo các quy định trên thì sau khi ly hôn tài sản đó vẫn là tài sản riêng của bạn vì nó được hình thành trước hôn nhân. Mặc dù có mang tên của mình anh chồng nhưng khi ly hôn chị sẽ vẫn được chia, áp dụng theo nguyên tắc chia tài sản theo Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014.

Trường hợp khi tòa án đang thụ lý vụ án chia tài sản chung, nếu có thỏa thuận chia tài sản của đương sự thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của của đương sự.

Tại Khoản 2, Điều 5 – Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định:

2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.”

Điều 70. Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự như sau:
”1. Các đương sự có các quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng.
2. Khi tham gia tố tụng, đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:


e) Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành;”

Khoản 2 Điều 212 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định việc Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

"2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.”

Khoản 1 Điều 213 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

“1. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.”

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chưa ly hôn đã tổ chức đám cưới với người khác thì xử lý thế nào ? Quyền nuôi con sau khi ly hôn ?