1. Vay tiền mà không trả phạm tội gì ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi có cho 1 sinh viên vay số tiền 45 triệu đồng trong thời gian 1 tháng kể từ ngày mượn ( có giấy nợ và CMT photo). Đến nay đã hơn 5 tháng tôi đã gọi điện nhưng người vay luôn tắt máy để trốn tránh. Cho tôi hỏi nếu tôi đưa đơn ra toà thì tội danh của bị cáo sẽ bị xử mức phạt như thế nào? trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ thì sẽ như thế nào ?
Mong nhận được câu trả lời! Trân trọng cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê, câu hỏi của bạn được giải đáp như sau:

1. Về mức xử phạt hành chính:

Hành vi của sinh viên đó có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Cụ thể:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

..."

Như vậy, nếu đưa đơn ra tòa, bị cáo sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Về việc người vay không có khả năng trả nợ:

Khi bạn cho người sinh viên đó vay tiền và có giấy nợ cũng như bản photo chứng minh thư để đảm bảo, giữa hai người đã giao kết hợp đồng vay tài sản. Vì vậy căn cứ theo Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

"Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý..."

Bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố hành vi của người vay tiền khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ thì căn cứ theo Điều 351 Bộ luật dân sư 2015 về vi phạm nghĩa vụ dân sự :

"Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

2. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền."

Trong trường hợp này nếu bên vay không có bất kỳ một tài sản nào để có thể thanh toán khoản nợ vay cũng như chứng minh được bên vay không hề phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bên cho vay sẽ phải hoàn toàn chịu rủi ro.

>> Xem thêm:  Mức thuế thu nhập cá nhân khi nhận thừa kế ? Tư vấn tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ?

2. Vay tiền rồi bỏ trốn có phạm tội hay không ?

Thưa Luật sư, Năm 2010 gia dình tôi có cho bà A mượn tiền với số tiền là hơn 100 triệu đồng, giữa gia đình tôi và bà A có làm giấy tay để cho bà A vay số tiền trên, 2 bên cùng kí vào giấy. Bà A trả tiền lãi được vài tháng rồi thôi không trả nữa. Đến kì hạn trả tiền gốc bà A đã không trả và trốn khỏi địa phương. Nay tôi muốn khởi kiện thì làm như thế nào. Được biết bà A trốn lên Thành phố Hồ Chí Minh và tôi cũng không biết địa chỉ của bà này.
Sự việc đến nay đã hơn 4 năm rồi và tôi hiện cư ngụ tại xã Tân Phú, Châu Thành ,Bến Tre.Rất mong luật sư tư vấn dùm. Cũng vì sự việc này mà gia đình chúng tôi xào xáo và Ba tôi vì suy nghĩ quá nhiều sinh bệnh qua đời ?
Rất mong được hồi âm của luật sư.

Vay tiền rồi bỏ trốn có phạm tội hay không?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Hợp đồng vay tài sản như sau:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy gia đình bạn cho bà A vay số tiền 100 triệu nhưng nay bà A không trả và bỏ trốn khỏi địa phương. Hành vi của bà A có dấu hiêu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cụ thể:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Như vậy bà A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017 với khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm tù.

Vì thế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bạn cần phải làm đơn tố cáo tới cơ quan điều tra và xử lí về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nêu trên.

Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự thì công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Như vậy, bạn có thể gửi đơn tố cáo hành vi của bà A đến các cơ quan nêu trên, kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan để đề nghị khởi tố vụ án nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất như thế nào ? Quyền định đoạt tài sản

3. Trách nhiệm hình sự khi vay tiền không có khả năng trả?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Chuyện bắt đầu từ tháng 10 năm 2010, khi gia đình tôi xây nhà, mẹ tôi có đi vay lãi ngày của người tên A (việc này mọi người trong nhà tôi không ai biết) số tiền là 184 triệu đồng (bên cho vay đưa làm nhiều lần, mỗi lần 20-30 triệu) và tính lãi là 5nghìn/1triệu/ngày.
Tính đến thời điểm cuối năm 2012 mẹ tôi đã trả số tiền là vào khoảng hơn 500 triệu rồi, nhưng không hiểu sao bên cho vay vẫn tính cả gốc và lãi tiếp theo lên còn nợ đến tháng 10/2013 là 800 triệu (tôi không nhớ chính xác được các số cụ thể mà chỉ nhớ được tổng số). Vậy vay gốc 184 triệu đã trả hơn 500 triệu mà vẫn còn bắt nợ 800 triệu nữa, gia đình tôi đã phải bán nhà để trả nợ mà vẫn không đủ, hàng ngày số nợ đó 1 tăng lên, gia đình tan nát, ly tán. Đến tháng 11/2013, tôi có nhận được thông tin yêu cầu mẹ tôi trả nợ của người tên B vì đã nhận tiền của họ với mục đích nhờ xin việc, từ đó tôi phát hiện ra rằng với số tiền 200 triệu trên mẹ tôi đã dùng để trả cho người cho vay nặng lãi kia do thúc ép quá nhiều và đe dọa giết em trai tôi. Từ tháng 11/2013 đến nay gia đình tôi đã trả cho người mà nhờ xin việc tên B (thực tế người này đi gom hồ sơ của rất nhiều trường hợp cần xin mang đến nhờ mẹ tôi đi xin, do mẹ tôi trước đấy đã xin được 1 trường hợp khiến họ kiếm được khá nhiều tiền từ trường hợp này, nên giờ tham muốn xin thêm) số tiền là 50 triệu đồng, và cũng đã nhờ cơ quan công an (nhờ mất chi phí, chứ không phải khởi kiện) giải quyết vụ cho vay nặng lãi của cô A kết luận gia đình tôi không phải trả thêm tiền nữa. Đến ngày 8/12/2014 cô B quyết định khởi kiện mẹ tôi ra công an tỉnh và ngày hôm qua 9/6/2015 có quyết định bắt tạm giam mẹ tôi, với lí do không có chỗ ở cố định (có hộ khẩu thường trú, nhưng do gia đình tôi không còn nhà để ở nên mẹ tôi phải đi làm giúp việc, làm thuê tại các tỉnh, nhưng bất cứ khi nào cơ quan công an gọi mẹ tôi đều có mặt để giải quyết, không bỏ trốn, khai báo thành khẩn, chỉ xin có thời gian đi làm để có thu nhập trả cho cô B). Việc vay nặng lãi của cô A, trả tiền cho cô B thế nào, mẹ tôi đã trình báo rất kỹ tại cơ quan công an. Khoảng 10h sáng ngày 9/6/2015 tôi có nhận được 1 cuộc điện thoại của công an báo đã bắt tạm giam mẹ tôi vì còn nợ cô B số tiền 157 triệu đồng chưa trả, trong vòng 3 tháng tạm giam nếu trả hết tiền thì xem xét, không thì giải quyết. Hiện nay tôi rất hoang mang, vì gia đình chỉ có 2 chị em (em còn nhỏ, bố mất sớm). tôi viết thư này xin lời khuyên từ phía luật sư, gia đình tôi nên làm gì lúc này để cứu được mẹ tôi, khả năng thanh toán luôn hết 157 triệu là rất khó khăn.
Tôi xin hỏi luật sư:

1. Việc cho vay như trên của cô A có được coi là cho vay nặng lãi không? cơ quan công an lần trước đã giải quyết gia đình tôi không phải trả thêm nữa là có đúng không?

2. Cô B mặc dù khởi kiện mẹ tôi nhận tiền của cô ấy, chưa trả, nhưng cô ấy là người có thể coi là đầu mối đi thu gom hồ sơ để nhằm mục đích kiếm lời khi xin việc (tất cả các giấy nhận tiền mẹ tôi đều viết nhận từ cô B để lo công việc cho trường hợp A, B, C…). khi mẹ tôi bị khởi kiện cô B có được coi là đồng phạm, liên quan gì không? có bị xử lý gì không?

3. Với số tiền nợ là 157 triệu, mẹ tôi lại già đã 58 tuổi, sức khỏe yếu, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, vi phạm lần đầu, khi phạm tội là do cô A thúc ép đòi nợ, đe dọa làm tôi mất việc và giết em trai tôi, không trốn nợ mà khả năng hoàn trả chưa có, thành khẩn khai báo, gia đình thân nhân 2 bên đều tốt, ông ngoại tôi có công với cách mạng. Căn cứ vào những yếu tố trên đây nếu bị khởi tố thì mẹ tôi sẽ bị xếp vào khung nào? chịu mức án nào?

Tôi mong sớm nhận hồi âm của Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư.

Trách nhiệm hình sự khi vay tiền không có khả năng trả?

Luật sư tư vấn luật hình sự về đòi nợ, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

1. Về cho vay nặng lãi.

Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội cho vay lãi nặng như sau:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về lãi suất.

Như vậy, pháp luật chỉ thừa nhận đối với phần lãi suất không vượt quá 20%/năm. Bên cạnh đó, để xem xét hành vi cho vay tiền có lãi có phải là hành vi cho vay nặng lãi hay không thì cần xem xét lãi suất cho vay là bao nhiêu. Nếu lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 05 lần trở lên, đồng thời có tính chất chuyên bóc lột thì xác định hành vi đó cấu thành Tội cho vay nặng lãi.

Hiện nay, lãi suất theo pháp luật quy định là 20%/năm, tức là không được vượt quá 1,66%/ tháng.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Theo như thông tin bạn đưa ra, thì cô A là người cho vay nặng lãi. Việc cơ quan công an đưa ra các quyết định thì luôn có căn cứ của nó, nên công an đưa ra quyết định gia đình bạn không phải trả thêm nữa là đúng.

2. Về xác định đồng phạm:

đồng phạm được quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự:

"1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2.Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm."

Trường hợp trên cô B có thể được xem là đồng phạm, là người giúp sức tạo điều kiện cho cô A kia thực hiện tội phạm. Đồng phạm thì bị xử phạt độc lập như người phạm tội.

3. Về quy định mức hình phạt

Trong trường hợp này, mẹ bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

>> Xem thêm:  Trình tự thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản thừa kế làm như thế nào ? Quyền quản lý tài sản thừa kế

4. Có thể kiện người vay khi không có giấy tờ vay được không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có quen một anh bạn được 4 năm. Anh ta làm tại công ty của nhà nước anh ta làm chức vụ trưởng phòng cuối năm 2015 anh ta vì cầm tiền của công ty đem tiền của công ty làm việc riêng. Nên anh ta bị nợ công không có tiền trả. Anh ta mượn tôi với số tiền là 115 triệu đồng để trả nợ công. Chúng tôi vay tiền có ký nhận vay mượn và tôi vẫn đangcầm chứng minh nhân dân của anh ta. Đến nay tôi đòi tiền anh ta toàn chặn số điện thoại. Và ngoài ra anh ta có nhờ tôi mu 2 hóa đơn khống vào ngày 29/2/2016 với trị giá khoảng hơn 5 triệu ( hóa đơn tôi đã phô tô lại).
Luật sư cho tôi hỏi trong trường hợp này tôi có thể kiện được anh ta không. Và nếu có thì anh ta sẽ bị vi phạm những tội gì ? Nhờ vp luật sư tư vấn giúp tôi và hướng dẫn tôi làm thủ tục ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn

Trường hợp này bạn có thể kiện được người bạn đó theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

" Điều 174. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

Bạn có thể viết đơn khởi kiện lên tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi người bạn đó cư trú đính kèm giấy tờ vay tiền cùng với hóa đơn khống mà bạn mua cho anh ta làm bằng chứng khởi kiện.

>> Xem thêm:  Thủ tục phân chia di sản thừa kế như thế nào ? Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu ?

5. Vay tiền trả góp không còn khả năng trả phải chịu trách nhiệm gì ?

Kính chào luật sư, em năm nay 30t , em có vay bên ngân hàng vpbank tổng số tiền la 59t em góp mỗi tháng 3t3 và góp trong vòng 3nam ,em đã góp duoc 2,5 năm và hiện tại bây giờ e không còn khả năng tiếp tục trả cho bên ngân hàng nữa e tính trốn luôn thì em có bị phạt tu ko ah và nếu phat thì e phải chui bao nhiêu năm ah.

Vay tiền trả góp không còn khả năng trả phải chịu trách nhiệm gì theo pháp luật hiện hành.

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Trường hợp bạn vay tiền với bên ngân hàng nếu là vay thế chấp thì khi bạn không có khả năng trả nợ thì tài sản thế chấp mà bạn đã dùng để thế chấp sẽ bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ nợ. Trường hợp này thì phía ngân hàng có thể khởi kiện theo pháp luật dân sự là kiện đòi tài sản để tiếp theo là cơ quan thi hành án sẽ kê biên tài sản mà bạn đã thế chấp phụ vụ cho nghĩa vụ trả nợ của bạn, theo Bộ luật dân sự năm 2015 quy đinh:

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Thứ hai: Nếu trường hợp bạn vay tín chấp, tức là không thế chấp tài sản với bên ngân hàng. Nếu bạn không có khả năng trả nợ thì ngân hàng cũng có thể kiện đòi tài sản theo pháp luật dân sự. Nhưng rất có thể căn cứ vào hành vi của bạn từ việc vay tiền, mục đích sử dụng tiền cũng như quá trình thanh toán nghĩa vụ nợ hàng tháng như thế nào. Và từ hành vi bạn bỏ trốn khỏi địa phương để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nữa thì rất có thể bạn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175, Bộ luật hình sự năm 2015 . Tất nhiên nếu điều này sảy ra thì phải được phía ngân hàng khởi kiện bạn, và khi đã khởi kiện mà bạn còn tiếp tục bỏ rốn thì hẳn là một bất lợi nữa cho mình khi ra tòa.

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Từ căn cứ pháp lý nêu trên có thể thấy với trường hợp của bạn có thể phải chịu hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Đồng thời bạn phải thực hiện nghĩa vụ nợ còn thiếu cả gốc cả lãi theo yêu cầu của phía ngân hàng bởi phán quyết của Tòa. Vậy nên sau khi tiếp nhận được sự việc của bạn Luật sư rất hy vọng bạn có phương án giải quyết phù hợp tránh những hậu quả đáng tiếc về sau. Chúc bạn sức khỏe!

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành