1. Khái niệm xác định thẩm quyền xét xử

Xác định thẩm quyền xét xử là việc phân định thẩm quyền xét xử các vụ án giữa các toà án.

Thẩm quyền xét xử của toà án các cấp được xác định căn cứ vào những dấu hiệu nhất định và tính chất của từng vụ án cụ thể.

2. Thẩm quyền xét xử theo vụ việc

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữaa các cấp Tòa án, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm. Do Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, nên thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa 2 cấp Tòa án còn lại.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực:

Theo khoản 1 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm như sau:

“Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án

1. Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự;

d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

…”

Theo quy định trên, Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật hình sự 2015 quy định hình phạt từ 15 năm tù trở xuống, trừ những tội quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Tuy nhiên, do trình độ, năng lực chuyên môn; điều kiện cơ sở vật chất; biên chế của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án ở một số huyện chưa đảm bảo yêu cầu, cần tiếp tục bổ sung, kiện toàn mới có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra để có thể thực hiện được quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án cấp huyện theo tinh thần trên.

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án

2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:

a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực;

b) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;

c) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.”

Như vậy, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tức là những vụ án về những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt trên 15 năm tù; những vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nhưng Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét thấy cần thiết phải lấy lên để xét xử do tính chất đặc biệt của vụ án. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 vẫn không quy định cụ thể những vụ án hình sự nào mặc dù thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh vẫn quyết định lấy lên để xét xử. Do đó, việc đưa vụ án lên xét xử ở cấp trên căn cứ vào khả năng giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng ở cấp dưới.

3. Thẩm quyền xét xử theo đối tượng

Thẩm quyền xét xử theo đối tượng chính là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội.

Theo Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002 quy định:

Điều 3

Các Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là:

1. Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý;

2. Những người không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội.”

Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA đã hướng dẫn cụ thể về các đối tượng theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh trên.

Tại Điều 4 của Pháp lệnh cũng quy định:

Điều 4

Đối với những người không còn phục vụ trong Quân đội mà phát hiện hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trong thời gian phục vụ trong Quân đội hoặc những người đang phục vụ trong Quân đội mà phát hiện hành vi phạm tội của họ đã được thực hiện trước khi vào Quân đội, thì Toà án quân sự xét xử những tội phạm có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội; những tội phạm khác do Toà án nhân dân xét xử.”

Trong trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện như sau:

Trong trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 3 và Điều 4 của Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự 2002; những bị cáo và tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân. Trong trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án (Điều 5 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002). Tuy nhiên, chỉ được tách vụ án để điều tra, truy tố, xét xử riêng, nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án. Khi xét thấy cần tách vụ án để xét xử riêng, Tòa án quân sự đã thụ lí vụ án trao đổi với Viện kiểm sát quân sự có nhiệm vụ thực hành quyền công tố về việc tách vụ án. Nếu Viện kiểm sát quân sự thống nhất tách vụ án, Tòa án quân sự chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát quân sự để giải quyết theo thẩm quyền. Trường hợp Viện kiểm sát quân sự không thống nhất tách vụ án, Tòa án quân sự đã thụ lí vụ án phải xét xử toàn bộ vụ án.

Thẩm quyền xét xử người phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội được xác định tùy từng trường hợp cụ thể. Nếu vụ án có những tình tiết cần điều tra liên quan đến bí mật quốc phòng thì Tòa án quân sự xét xử. Những tội phạm khác, Tòa án quân sự có thể chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân. Nếu có tranh chấp về thẩm quyền giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét và quyết định.

Như vậy, có thể thấy, Tòa án nhân dân có thẩm quyền rộng hơn, xét xử hầu hết các đối tượng phạm tội, trừ những đối tượng thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự đã được quy định trong Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002. Đồng thời, ngay trong thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự cũng có sự phân biệt thẩm quyền theo đối tượng. Cấp bậc, chức vụ của quân nhân chính là căn cứ để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự các cấp. Theo quy định tại Điều 26, Điều 29 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002 về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án quân sự cấp quân khu và khu vực thì: các vụ án mà bị cáo khi phạm tội có cấp bậc từ thượng tá trở lên, có chức vụ từ sư đoàn trưởng và tương đương trở lên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp Quân khu mà không phụ thuộc vào tội phạm thuộc loại nào. Các vụ án còn lại thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực.

4. Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ

Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân

Thẩm quyền theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra. Thông thường, vụ án hình sự được xét xử ở Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

Theo khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án như sau:

Điều 269. Thẩm quyền theo lãnh thổ

1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

…”

Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xét xử như đảm bảo sự có mặt của những người tham gia tố tụng, dễ dàng cho việc xem xét tại chỗ nơi xảy ra tội phạm và các vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được.

Trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài thì thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân được xác định theo khoản 2 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

Điều 269. Thẩm quyền theo lãnh thổ

2. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.”

Như vậy, vụ án về các tội phạm xảy ra ở nước ngoài bị đưa về nước xét xử sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh mà không phụ thuộc vào loại tội phạm được thực hiện. Bởi vì, phân định như thế mới đảm bảo cho các hoạt động tố tụng ở nước ngoài, các quan hệ với các cơ quan tố tụng nước ngoài trong ủy thác hoạt động tư pháp, trong tương trợ hoạt động tư pháp,…

Việc quy định thẩm quyền xét xử thuộc về Tòa án nơi tội phạm được thực hiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian hơn trong việc tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng hoặc những người liên quan trong vụ án. Mặt khác, việc xử lý vụ án tại nơi tội phạm được thực hiện cũng đảm bảo tốt hơn sự có mặt của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Đối với những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam thì được quy định theo Điều 270 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

Điều 270. Thẩm quyền xét xử tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam

Tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.”

Theo quy định của pháp luật quốc tế thì tàu bay, tàu biển mang quốc tịch quốc gia nào, dù đang hoạt động ngoài không phận hay lãnh hải của quốc gia đó vẫn được coi là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia mà nó mang quốc tịch. Do vậy, tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của Việt Nam đã rời khỏi không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam vẫn là tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam. Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển đăng đó trở về đầu tiên ở trong nước hoặc Tòa án nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký. Tùy vào tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để xác định cấp Tòa án xét xử là Tòa án cấp huyện hay cấp tỉnh.

Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của Tòa án quân sự

Đối với những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự thì ngoài quy tắc chung quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015 nêu trên, việc xác định thẩm quyền xét xử còn phải căn cứ vào Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA Hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Mục II của Thông tư quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo lãnh thổ như sau:

“II. THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ THEO LÃNH THỔ

Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ quy định tại Điều 171 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với các Tòa án quân sự được thực hiện như sau:

1. Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp nào xảy ra trên địa bàn có Tòa án quân sự cáp đó thì do Tòa án quân sự cấp đó xét xử. Việc phân định địa bàn trong uân đội để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự do Bộ Quốc phòng quy định cụ thể.

2. Trong trường hợp người phạm tội thuộc đơn vị của quân chủng hoặc tổ chức t­ương đ­ương có tổ chức Tòa án quân sự, thì vụ án do Tòa án quân sự của quân chủng hoặc tổ chức t­ương đ­ương xét xử không phụ thuộc vào nơi thực hiện tội phạm. Trong trường hợp người phạm tội là những người theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh mà tội phạm của họ gây thiệt hại trực tiếp cho quân chủng hoặc tổ chức t­ương đ­ương, thì vụ án cũng do Tòa án quân sự của quân chủng hoặc tổ chức t­ương đ­ương xét xử.

3. Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm hoặc trong trường hợp có nhiều Tòa án quân sự khắc nhau có thẩm quyền xét xử vụ án do trong vụ án có nhiều người phạm tội thuộc nhiều đơn vị khác nhau, hoặc do người phạm tội thực hiện tội phạm ở nhiều nơi, nếu Viện Kiểm sát quân sự truy tố bị can trước Tỏa án quân sự nào, thì Tòa án quân sự đó xét xử vụ án.

4. Trường hợp bị cáo là quân nhân phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án quân sự quân khu, quân chủng hoặc t­ương đ­ương xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự Trung ­ương.”

Theo hướng dẫn trên của Thông tư thì các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực thuộc quân khu được thực hiện theo quy định của Điều 171 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (Bộ luật cũ), còn Bộ luật mới thay thế là Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ. Còn các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Quan chủng hải quân và các Tòa án quân sự khu khu vực Quân chủng hải quân thì không áp dụng nguyên tắc lãnh thổ. Các Tòa án này có thẩm quyền xét xử các vụ án xảy ra trong các đơn vị quân chủng, các vụ án mà bị cáo là người do quân chủng quản lí hoặc người khác phạm tội liên quan đến bí mật quân sự, gây thiệt hại cho các đơn vị thuộc quân chủng hải quân.

5. Về thẩm quyền xét xử phúc thẩm

Điều 344 BLTTHS năm 2015 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị.

6. Về thẩm quyền giám đốc thẩm

Để thống nhất với quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Điều 382 BLTTHS năm 2015 quy định Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Toà án quân sự Trung ương bị kháng nghị; Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực; Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Về thành phần Hội đồng giám đốc thẩm trong BLTTHS 2015 cũng được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau: Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm 03 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể); thành phần Hội đồng giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gồm 05 Thẩm phán hoặc Hội đồng toàn thể. Đồng thời, quy định rõ ràng, cụ thể phạm vi, thẩm quyền xét xử của các Hội đồng này. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm (Điều 388).

Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định nguyên tắc “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” mà không quy định “Thực hiện chế độ 2 cấp xét xử” như trong BLTTHS năm 2003. Để khắc phục tình trạng vụ án bị kéo dài do phải xét xử sơ thẩm, phúc thẩm lại nhiều lần, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực. Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 393 BLTTHS năm 2015.

Quy định này nhằm bảo đảm trên thực tiễn khi xét xử vụ án theo trình tự giám đốc thẩm có nhiều trường hợp đã rõ ràng về chứng cứ, không cần phải xét xử lại như có đủ căn cứ để giảm nhẹ hình phạt hoặc giảm mức bồi thường cho bị cáo nhưng do quy định hiện hành Hội đồng giám đốc thẩm không có quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, chỉ được hủy án để xét xử lại làm việc giải quyết vụ án kéo dài, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người dân, gây tốn kém, lãng phí ngân sách Nhà nước.

Việc cho phép Hội đồng giám đốc thẩm sửa án không vi phạm nguyên tắc Hiến định “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” mà lại đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Để đảm bảo tranh tụng, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định trường hợp có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm. Tuy nhiên, nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành.