Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định.

Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.

Quá trình Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. Bên cạnh đó, mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

Đặc biệt, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

1. Đặc điểm của xét xử tại tòa án

Chức năng, thẩm quyền xét xử thuộc về toà án (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính...).. Hoạt động xét xử của Toà án có các đặc điểm sau:

1) Tính đặc thù trong áp dụng pháp luật;

2) Tính độc lập trong hoạt đồng nghề nghiệp;

3) Tính hiệu lực tuyệt đối trong các phán quyết của Toà án.

Theo pháp luật hiện hành, Toà án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự và các toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; phức thẩm những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.

Là một giai đoạn tố tụng quan trọng được tiến hành dưới hình thức phiên toà nhằm xem xét, phán xét, nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết theo trình tự luật định những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án. Xét xử phải được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc luật định như toà án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, xét xử tập thể, xét xử công khai, bảo đảm quyền bình đẳng trước toà án, bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo...

2. Quy định về xét xử hai cấp

Nguyên tắc này bắt nguồn từ một giá trị tiến bộ trong hệ thống tư pháp châu Âu lục địa mà đại diện là Cộng hòa Pháp, đó là người dân có quyền yêu cầu tòa án xét xử lần thứ hai đối với tranh chấp của mình nếu chưa bị thuyết phục bởi lần xét xử đầu tiên. Tòa án tuân thủ nguyên tắc hai cấp xét xử chính là để bảo đảm thực hiện quyền được xét xử hai lần của người dân.

Hiện nay, nguyên tắc xét xử hai cấp được quy định tại khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, cụ thể hóa bởi Điều 6 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 và các luật tố tụng. Nội dung chính của nguyên tắc này như sau:

Thứ nhất, khi tòa án đã kết thúc xét xử sơ thẩm đối với vụ án mà một trong hai bên chưa hài lòng với phán quyết sơ thẩm thì có thể yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm đối với vụ án. Việc yêu cầu được xét xử phúc thẩm là quyền của các bên đương sự và tòa án có nghĩa vụ đáp ứng; nếu kháng cáo phúc thẩm đã được đưa ra một cách hợp pháp thì tòa án không có quyền từ chối xét xử phúc thẩm. Đó là lý do khoản 1 Điều 6 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cảo, khảng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Phạm vi của xét xử phúc thẩm căn cứ vào phạm vi yêu cầu xét xử phúc thẩm của các bên. Như vậy, hai cấp xét xử ở đây là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Cần lưu ý là giám đốc thẩm không phải là thủ tục xét xử lại vụ án mà là xem xét lại bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật song có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc áp dụng sai pháp luật. Do đó, nguyên tắc hai cấp xét xử không áp đặt lên tòa án nghĩa vụ xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm cho dù các bên đương sự có yêu cầu.

Thứ hai, các bản án sơ thẩm sau khi được hội đồng xét xử tuyên án chưa có hiệu lực pháp luật ngay. Các bên luôn có một khoảng thời gian, thường là 15 ngày, để kháng cáo phúc thẩm. Het khoảng thời gian đó mà không có kháng cáo thì các bên được coi là bị thuyết phục bởi bản án sơ thẩm và do đó bản án sơ thẩm có hiệu lực. Nếu trong khoảng thời gian đó các bên thực hiện quyền kháng cáo phúc thẩm thì phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo sẽ bị coi là không có hiệu lực và sẽ được xử phúc thẩm. Sau khi tòa án phúc thẩm xét xử thì quyền được xét xử hai làn đã được đáp ứng và bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên. Quyền kháng cáo của các bên chấm dứt.

Thứ ba, nguyên tắc hai cấp xét xử cũng có nghĩa là tương ứng với quyền 2 lần đi tìm công lí, là nghĩa vụ của tòa án đem lại công lí qua tối đa hai lần xử án. Khi bản án đã có hiệu lực mà bị phát hiện có sai sót thì tòa án phải chịu trách nhiệm với những sai sót đó và bồi thường nếu phát sinh thiệt hại cho các bên.

Về mặt tổ chức, nguyên tắc hai cấp xét xử cũng yêu cầu hệ thống tòa án phải được tổ chức thành các cấp tòa án để phục vụ các cấp xét xử, theo đó thủ tục xét xử phúc thẩm phải được thực hiện bởi cấp tòa án là cấp trên của cấp tòa án đã xét xử sơ thẩm.

Nói cách khác, hệ thống tòa án phải được tổ chức sao cho không xảy ra trường hợp một tòa án đồng thời xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đối với cùng vụ việc.

3. Nguyên tắc Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm

- Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.

Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

- Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới theo quy định của Bộ luật này thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

4. Kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự

Để đảm bảo hoạt động tố tụng diễn ra đúng pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra việc tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền; thực hiện kiểm soát giữa các cơ quan trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Nếu phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật này. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật.

5. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Nếu phát hiện có sự vi phạm trong quá trình tố tụng, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.

Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc phục.

Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định.

Pháp luật nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống người khác.

6. Người tham gia tố tụng

Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định người tham gia tố tụng bao gồm:

1. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

3. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

4. Người bị bắt.

5. Người bị tạm giữ.

6. Bị can.

7. Bị cáo.

8. Bị hại.

9. Nguyên đơn dân sự.

10. Bị đơn dân sự.

11. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

12. Người làm chứng.

13. Người chứng kiến.

14. Người giám định.

15. Người định giá tài sản.

16. Người phiên dịch, người dịch thuật.

17. Người bào chữa.

18. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

19. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố.

20. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của Bộ luật này.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)