1. Cơ sở pháp lý về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

- Hiến pháp năm 2013

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

2. Quyền con người là gì?

Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế.

3. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là nguyên tắc đặc trưng của luật tố tụng dân sự, ghi nhận một quyền con người cơ bản được thừa nhận trong luật nhân quyền quốc tế, đó là quyền tiếp cận công lý. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ là biểu hiện của năng lực pháp luật tố tụng dân sự của các chủ thể và mọi chủ thể đều được bình đẳng về quyền.

Điểm giống nhau của quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ với các quyền khác ở chỗ khi một người sinh ra hoặc một pháp nhân được thành lập đã có quyền này.

Điểm khác nhau giữa quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ so với các quyền khác ở chỗ quyền này chỉ có thể sử dụng khi có hành vi xâm phạm tới quyền dân sự của chủ thể.

3.1. Nội dung quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng

Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng được ghi nhận tại Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự. Cụ thể:

Điều 4. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.

Nội dung quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ thể hiện ở việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền tiếp cận Tòa án (còn gọi là tố quyền) để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc có quyền và lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ.

Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được ghi nhận tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thể hiện qua 02 nội dung như sau:

1) Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án giải quyết. Người bị kiện, người thứ ba có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng có thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình thông qua quy định về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn, quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bên cạnh đó, vì tố tụng dân sự không chỉ nhằm mục tiêu bảo vệ quyền lợi của cá nhân, tổ chức khởi kiện mà còn bảo vệ công lý, lợi ích xã hội nên người không có lợi ích liên quan cũng có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc lợi ích công cộng;

2) Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Quy định này nhằm bảo đảm tối đa quyền tiếp cận công lý của người dân.

Theo quy định tại Điều 4, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Còn Điều 187 Bộ luật này quy định cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình. Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Phương thức nộp đơn khởi kiện có thể nộp trực tiếp tại Tòa án, gửi đến Tòa án qua dịch vụ bưu chính hoặc gửi đơn khởi kiện trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án.

3.2. Tiến trình tiếp nhận và thụ lý giải quyết

Để bảo đảm không chậm trễ trong việc giải quyết vụ việc, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định:

1) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

2) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án;

3) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

 4) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Đối với trường hợp vụ án được thụ lý, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án. Trên cơ sở báo cáo thụ lý vụ án của Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án bảo đảm nguyên tắc vô tư, khách quan, ngẫu nhiên.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phần công Thẩm phán giải quyết vụ án. Sau khi được phân công, Thẩm phán tiến hành lập hồ sơ vụ án, bao gồm đơn và toàn bộ tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án dân sự; yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và tiến hành các bước tiếp theo của quá trình tố tụng.

3.3. Trách nhiệm giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng

Trên thực tế, có những trường hợp người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đối với vụ việc dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh chưa có điều luật để áp dụng do pháp luật dân sự không thể dự liệu hết các tình huống sẽ xảy ra trong thực tiễn, nghĩa là có “chỗ trống” của luật. Trường hợp này Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Đây là một nội dung mới được bổ sung vào Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhằm bảo đảm tối đa quyền tiếp cận công lý của người dân. Khi người dân có tranh chấp, yêu cầu về dân sự và họ yêu cầu Tòa án để giải quyết, Tòa án không được phép từ chối mà phải thụ lý và áp dụng các nguồn khác của luật dân sự để giải quyết vụ việc, như áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật, áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng, nhằm bảo vệ ở mức độ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự.

Do đây là vấn đề mới, chưa có tiền lệ trong hoạt động tư pháp nên pháp luật giới hạn vụ việc chưa có điều luật để áp dụng mà Tòa án phải thụ lý giải quyết nhằm tránh hiện tượng thụ lý tất cả các yêu cầu của đương sự mà không tính đến tính chất của các quan hệ pháp luật, với các điều kiện sau:

- Đó là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự, nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng. Như vậy, Tòa án chỉ giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu đối với quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm; còn các tranh chấp, các yêu cầu khác không phải là dân sự thì Tòa án không thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

- Đối với các tranh chấp, các yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết mà chưa có điều luật quy định thì Tòa án phải căn cứ vào nguyên tắc sau đây:

+ Trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán đó không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng. Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định Bộ luật Dân sự. Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc.

+ Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng tương tự pháp luật. Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

+ Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng.

Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dần tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố. Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về "Bảo đảm quyền con người trong tố tụng dân sự". Bạn đọc còn vướng mắc pháp lý nào khác vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp nhanh chóng nhất!

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập