1. Đòi tiền khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư. Tôi có mua quần áo của ông tên A, ông này có gửi cho tôi hình ảnh của sản phẩm trước khi giao hàng, và tôi chuyển khoản cho người đàn ông đó 5 triệu đồng chẵn qua ngân hàng điện tử và ông này đã xác nhận đã nhận được tiền và đồng ý chuyển hàng cho tôi theo địa chỉ tôi đưa. Hôm nay tôi nhận được hàng lại là một mặt hàng khác hàng kém chất lượng, tôi có gọi điện cho người đàn ông kia thì không gọi được và tất cả tài khoản của tôi trên zalo, facebook đều bị chặn hết.
Vậy luật sư cho tôi hỏi người này có phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

1. Các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì ?

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhằm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.
Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu sau:
Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.
Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra các thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội.
Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.
Lưu ý: Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định kể từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khu dùng thủ đoạn gian dối để làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phản nhận.
Dấu hiệu khác, có một trong các dấu hiệu sau đây: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc vào các trường hợp: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175, 290 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Mặt chủ quan: Người phạm tội nêu trên thực hiện hành vi này với lỗi cố ý
Chủ thể: Chủ thể của lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

2. Mẫu đơn trình báo công an viết như thế nào ?

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
ĐƠN XIN TRÌNH BÁO
Kính gửi: CÔNG AN QUẬN ……………………………………….
Tôi tên là :……………………………………………………….
CMND số : …………………………………………………….
ĐKHKTT : ………………………………………………………
Chỗ ở hiện tại : ...................................................................
Tôi làm đơn này xin trình báo với quý cơ quan việc như sau:
Thứ nhất:
Tôi và ông A có mối quan hệ....., (quen ở đâu như thế nào?)
Vào ngày …………………………………………………………
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
Tiếp theo,
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………
Thứ hai: Ngày …/…./…..
……………………………………………………………………
Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tôi và Công ty …………….., ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến quyền tài sản của công dân ……………..
…………………………………………………………………
…………………………………………………………………
Nay tôi đề nghị Qúy cơ quan xem xét các vấn đề sau đây: xác minh, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.....
Tài liệu kèm theo:
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày …. tháng ….. năm……
Người làm đơn

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

2. Hỏi về tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Chào luật sư, Tôi muốn hỏi về sự việc sau: cách đây 1 năm rưỡi tôi có mua lại hợp đồng cung cấp dịch vụ cho một công ty từ chị Đ và hai anh T. Hợp đồng đứng tên chị T. Với tổng số tiền là 90 triệu ( trong đó bao gồm 10 triệu đặt cọc trong công ty). Khi bàn giao tiền cho bên chị Đ và hai anh T chúng tôi có ký kết hợp đồng chuyển nhượng và kèm theo phiếu chi tiền.
Nhưng do lúc đó tin tưởng bên bán nên tôi có một sơ suất là trên hợp đồng có chữ ký của chị Đ ( vì chị Đ là chủ hợp đồng) nhưng phiếu chi chị Đ không ký mà chỉ có chữ ký của hai anh T. Giờ sau khi kết thúc hợp đồng đã quá nửa tháng mà bên bán không lấy tiền từ công ty trả cho tôi. Và còn muốn tôi phải trả lại canteen thì họ mới trả tiền. Trong hơp đồng có ghi rõ là giá chuyển nhượng là 90 triệu bao gồm 10 triệu Và sau khi kết thúc hợp đồng sẽ hỗ trợ cho bên tôi ký tiếp hợp đồng với công ty một cách trực tiếp. Trong quá trình làm việc tại công ty thì phía công ty muốn chấm dứt không ký hợp đồng với bên chị Đ nữa mà muốn ký trực tiếp với tôi.
Vậy cho tôi hỏi quý luật sư trường hợp của tôi như trên tôi có thể nhờ đến sự can thiệp của công an và tố cáo chị Đ và hai anh T về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được không ạ?
Xin cảm ơn và mong sớm nhận được hồi âm!
Người hỏi: T.H.L

>> Tư vấn pháp luật về hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Căn cứ vào quy định tại Điều174 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sủa đổi bổ sung năm 2017 có quy định như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

Có thể thấy cấu thành của tội phạm như sau:

Thứ nhất, mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Thứ hai, khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

Thứ ba, mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Dựa trên những yếu tố này, bạn có thể xác định việc bên kia có bạn tội lừa đảo chiếm đoạt hay không?

Trong trường hợp của bạn bạn đưa ra thông tin hợp đồng chuyển nhượng mà bạn ký kết với chị Đ đó không có chữ ký của chị Đ (người trực tiếp chịu trách nhiệm về hợp đồng mà chị Đ đang thực hiện với bên thứ ba), khi không có chữ ký của chị Đ thì hợp đồng mà bạn đã ký kết đó có thể vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định:

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Điều 407. Hợp đồng vô hiệu

1. Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.

2. Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

3. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chinh.

Như vậy những tài sản gì mà bạn và chị D đã nhận thì sẽ phải hoàn trả lại cho nhau khi hợp đồng vô hiệu.

Ngoài ra, căn cứ vào hành vi chị Đ không ký hợp đồng nhưng vẫn nhận tài sản của bạn để thực hiện hợp đồng thì đối với trường hợp này bạn có thể nhờ đến sự can thiệp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để khởi kiện chị Đ về tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ Luật Hình sự 2015 sủa đổi năm 2017:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;



Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin Tưởng sử dụng dịch vụ của Công ty chúng tôi. Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

3. lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ việc cho vay tiền ?

Kính gửi công ty luật Minh Khuê! Em xin công ty tư vấn giúp em một chuyện về pháp luật ạ. Chuyện là như thế này: em có cho bạn em mượn 1 triệu đồng em đòi mà bạn em không trả. Bạn em hiện đang làm lính tại trại giam tỉnh tương lai làm công an chính thức ạ.
Em biết mình bị lừa rồi nhưng vẫn cố gắng nhẹ nhàng hỏi lại số tiền em cho bạn em mượn nhưng lúc hỏi thì bạn em lấy đủ lý do trốn tránh không muốn trả, còn hỏi ngược lại em nếu không trả thì sẽ làm gì. Em rất bức xúc nhưng cũng chẳng nói nhiều cho rắc rối. Sau 1 thời gian em lấy số điện thoại khác nhắn tin vào số của bác sĩ thì số điện thoại bạn em trả lời, em cố tình dò hỏi thi bạn em khẳng định 2 số đều của 1 người. Sự việc khiến em rất bức xúc khi bạn em sẽ trở thành 1 người công an bảo vệ lợi ích cho công dân lại đi làm những chuyện như vậy. Giờ em muốn kiện bạn em vì hành vi lừa đảo hiếm đoạt tài sản được không ạ, em xin công ty tư vấn giúp em vấn đề này. Em xin chân thành cảm ơn quý công ty.
Người gửi: T.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời:

Chào bạn, về vấn đề của bạn Luật Minh Khuê tư vấn như sau, Căn cứ vào Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hành vi trên rất khó để truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo như thông tin bạn cung cấp thì chúng tôi thấy được hậu quả mà bạn phải chịu cũng chưa đến mức nghiêm trọng vì vậy việc kiện người này với tội danh trên sẽ gặp nhiều khó khăn. Do vậy chúng tôi khuyên bạn nên kiện người này ra tòa đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đông sẽ dễ dàng hơn. Tuy nhiên bạn cũng sẽ phải chứng minh 3 yếu tố sau:

- Có thiệt hại xảy ra;

- Có hành vi trái pháp luật;

- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, cảm ơn bạn đã tin tưởng

4. Tư vấn về việc lừa đảo chiếm đoạt tiền trong thẻ ATM ?

Xin chào Công ty luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong được giải đáp : Hải đã lừa gia đình tôi chiếm đoạt hơn 20 triệu đồng trong thẻ ATM, tôi có thể kiện về tội cố tình chiếm đoạt tài sản được không?

Ngày 20/1/2020 ;mẹ tôi có cho hải mượn thẻ ATM để một người bạn chuyển số tiền 5 triệu vào sử dụng, trong thẻ tôi còn 20 triệu nhưng sau khi Hải rút tiền thì đã rút luôn số tiền 20 triệu của tôi để sử dụng và tôi có yêu cầu hải trả lại số tiền tuy nhiên Hải đã cố tình không trả lại.

Nay tôi muốn kiện Hải về tội cố tình chiếm đoạt tài sản với giá trị là hơn 20 triệu đồng thì có được không ạ. Vì lúc giao thẻ mẹ tôi không làm giấy tờ nên bây giờ tôi thực sự không biết vào làm sao để nhờ pháp luật can thiệp yêu cầu Hải và gia đình Hải lại số tiền đó.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

Người gửi: Hiền

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo khoản 174 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Như vậy, số tiền mà gia đình bạn bị chiếm đoạt lên tới hơn 20 triệu đồng, gia đình bạn cần chứng minh tổng số tiền mà công ty mẹ bạn gửi vào sổ tiết kiệm là hơn 40 triệu đồng từ lúc Hải cầm thẻ ATM cho đến lúc trả lại thì trong thẻ không còn tiền. Nếu chứng minh được Hải đã sử dụng số tiền hơn 20 triệu đồng của gia đình bạn thì bạn có thể kiện Hải với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Trân Trọng./.

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?

5. tự ý rút tiền công ty có vi phạm không?

Kinh chào Luật Minh Khuê! Em trai tôi đang làm tại 1 Công ty. Năm 2015 Công ty có yêu cầu đóng Tài khoản Ngân hàng có số tiền 120.000.000 đồng. Sau khi đóng TK em tôi không mang về nộp luôn mà đến tháng 2/2016 mới nộp lại 120.000.000 đồng cộng với lãi vay tự tính cho Công ty và hạch toán số liệu đóng vào thời điểm nộp. Đến T6/2016 em tôi tự động rút 700.000.000 đồng tiền từ TK Ngân hàng của Công ty bằng séc có sẵn chữ ký, sau đó đã trả lại đủ 700.000.000 đồng vào TK tại tháng 7/2016 và cũng không hạch toán sự việc rút nộp vào sổ sách. Đến tháng 9/2016, do hối hận vì hành vi trên, em tôi làm bản tường trình thú nhận sự việc trên với Công ty.
Em tôi không có ý định chiếm đoạt một đồng nào, chỉ tạm thời sử dụng cho mục đích cá nhân và đã trả lại đủ trước khi tự thú với Công ty. Hành vi của em trai tôi có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Gia đình tôi đang rất lo lắng vì sự việc này.
Kính mong nhận được sự tư vấn của Quý Văn phòng luật.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo quy định pháp luật hình sự thì tội của em trai bạn không phải là chiếm đoạt tài sản mà là sử dụng trái phép tài sản của người khác theo quy định tại Điều177 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Điều 177. Tội sử dụng trái phép tài sản

1. Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 220 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Tuy nhiên, sau khi đóng TK em bạn không mang về nộp luôn mà đến tháng 2/2016 mới nộp lại 120.000.000 đồng cộng với lãi vay tự tính cho Công ty và hạch toán số liệu đóng vào thời điểm nộp. Đến T6/2016 em bạn tự động rút 700.000.000 đồng tiền từ TK Ngân hàng của Công ty bằng séc có sẵn chữ ký, sau đó đã trả lại đủ 700.000.000 đồng vào TK tại tháng 7/2016 và cũng không hạch toán sự việc rút nộp vào sổ sách. Đến tháng 9/2016, do hối hận vì hành vi trên, em bạn làm bản tường trình thú nhận sự việc trên với Công ty. Em bạn không có ý định chiếm đoạt một đồng nào, chỉ tạm thời sử dụng cho mục đích cá nhân và đã trả lại đủ trước khi tự thú với Công ty. Do đó, có thể thấy em bạn có các tình tiết được giảm nhẹ theo quy định tại Đ 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

Theo quy định trên em trai bạn có nhiều tình tiết giảm nhẹ gồm: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó theo Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì em trai bạn sẽ được miễn hình phạt

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua mạng xã hội thì phải làm gì để lấy lại ? Cách làm đơn tố giác lừa đảo