Dưới đây là hướng dẫn chi tiết về cách làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên Facebook.

 

1. Thông tin cần có trong đơn tố cáo lừa đảo

Một lá đơn tố cáo hiệu quả cần bao gồm các thông tin sau:

Thông tin cá nhân: Họ tên, ngày tháng năm sinh, số CCCD/CMND, địa chỉ cư trú, số điện thoại, email của người bị hại.

Thông tin của người bị tố cáo: Nếu biết, bạn nên ghi rõ họ tên, địa chỉ, số điện thoại, và đặc biệt là link Facebook cá nhân của đối tượng lừa đảo.

Nội dung vụ việc: Trình bày chi tiết vụ việc lừa đảo, bao gồm:

  • Thời gian và địa điểm xảy ra hành vi lừa đảo.
  • Phương thức lừa đảo: Đối tượng đã dùng chiêu trò gì để lừa bạn? (Ví dụ: rao bán hàng giả, kêu gọi đầu tư, cho vay nặng lãi,...)
  • Số tiền bị chiếm đoạt và bằng chứng chuyển khoản (nếu có).

Các bằng chứng khác: Ảnh chụp màn hình tin nhắn, cuộc gọi, bình luận, video hoặc các tài liệu liên quan.

 

2. Chuẩn bị hồ sơ tố cáo lừa đảo

Bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ đầy đủ để gửi đến cơ quan chức năng, bao gồm:

  • Đơn tố cáo: Soạn thảo đơn tố cáo theo mẫu chuẩn.
  • Bằng chứng: In hoặc lưu lại tất cả các bằng chứng đã thu thập được. Các bằng chứng này cần được sắp xếp một cách khoa học và dễ theo dõi.
  • Giấy tờ tùy thân: Bản sao công chứng CCCD/CMND hoặc hộ chiếu.

 

3. Gửi đơn tố cáo lừa đảo

Sau khi đã chuẩn bị xong hồ sơ, bạn có thể gửi đơn tố cáo đến một trong những cơ quan sau:

  • Công an phường/xã nơi cư trú của người bị hại hoặc nơi xảy ra vụ việc.
  • Phòng Cảnh sát hình sự của tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương nơi xảy ra vụ việc.

Bạn nên mang hồ sơ đến nộp trực tiếp để được hướng dẫn chi tiết hơn. Khi nộp, bạn nhớ yêu cầu cơ quan công an cấp phiếu tiếp nhận đơn để theo dõi quá trình xử lý.

 

4. Mẫu đơn tố cáo lừa đảo qua mạng

Dưới đây là một mẫu đơn tố cáo lừa đảo ngắn gọn, đơn giản mà Bạn có thể vận dụng:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-----------------

ĐƠN TỐ CÁO

Kính gửi: (Tên cơ quan Công an nhận đơn, ví dụ: Công an Phường/Xã...)

Họ và tên người tố cáo: ..... (Viết đầy đủ) .....

Ngày tháng năm sinh: Số CCCD/CMND: ..... (Ngày cấp, nơi cấp) .....

Địa chỉ thường trú/tạm trú: .....

Số điện thoại: .....

Email: .....

Nội dung tố cáo:

Tôi xin tố cáo ông/bà: Họ và tên: (Nếu biết) Địa chỉ: (Nếu biết) Facebook cá nhân: (Dán link)

Về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên Facebook với nội dung như sau:

(Trình bày chi tiết vụ việc, bao gồm thời gian, địa điểm, phương thức, số tiền và bằng chứng đã chuẩn bị. Bạn nên viết ngắn gọn, súc tích và rõ ràng.)

Tôi cam kết những thông tin trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những lời khai của mình.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

(Chữ ký của người tố cáo và ghi rõ họ tên)

 

Lưu ý: Việc làm đơn tố cáo không đảm bảo 100% sẽ lấy lại được tài sản đã mất. Tuy nhiên, nó là bước quan trọng để cơ quan chức năng có thể điều tra, xử lý đối tượng lừa đảo và ngăn chặn những vụ việc tương tự trong tương lai.

 

Mẫu đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản gửi Công an

Công ty Luật Minh Khuê hỗ trợ tư vấn về mẫu đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt mới tới cơ quan công an theo quy định của luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn chuyên ngành. Bạn có thể tham khảo mẫu đơn tố cáo dưới đây:

>> Tải ngay: Mẫu đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản gửi công an

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Hà Nội, ngày …..tháng……..năm 20…

ĐƠN TỐ CÁO

(Về hành vi lừa đảo của …………………..)

Kính gửi: CÔNG AN ......., THÀNH PHỐ HÀ NỘI

                VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN KHU VỰC .....

Họ và tên tôi: … Nguyễn Thị A…  Sinh ngày:… 23/12/1987 ...

Chứng minh nhân dân số: ……………………… 

Ngày cấp: …./…../20…….Nơi cấp: Công an tỉnh … 

Hộ khẩu thường trú: ………… (Ghi theo nơi cư trú ghi trên Sổ hộ khẩu của gia đình)

…………………………………………………………… 

Chỗ ở hiện tại:…………(ghi theo địa chỉ nơi ở hiện tại) …. 

………………………………………………………… 

Tôi làm đơn này tố cáo và đề nghị Quý cơ quan tiến hành điều tra, khởi tố hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật của:

Anh: …(điền tên của người có hành vi lừa đảo): Nguyễn Văn A Sinh ngày:… 

Chứng minh nhân dân số: ……………………… 

Ngày cấp:……………… Nơi cấp: …………… 

Hộ khẩu thường trú: …………………………… 

Chỗ ở hiện tại: …………………………………… 

Vì anh đã có hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của tôi với số tiền là Nguyễn Văn A Sự việc cụ thể như sau:

……………………………………………………… 

………………………………………………………… 

Từ những sự việc trên, có thể khẳng định anh Nguyễn Văn A đã dùng thủ đoạn gian dối khi tạo cho tôi sự tin tưởng nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của tôi.

Qua thủ đoạn và hành vi như trên, anh Nguyễn Văn A đã chiếm đoạt số tiền là ………… triệu đồng của tôi.

Tôi cho rằng hành vi của anh ………………. có dấu hiệu phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Bộ luật hình sự năm 2015: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…”

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nay tôi viết đơn này tố cáo anh ………………….. Kính đề nghị Quí cơ quan giải quyết cho những yêu cầu sau đây:

- Xác minh và khởi tố vụ án hình sự để điều tra, đưa ra truy tố, xét xử anh Nguyễn Văn A về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Buộc anh Nguyễn Văn A phải trả lại tiền cho tôi.

Tôi cam kết toàn bộ nội dung đã trình bày trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều trình bày trên.

Kính mong được xem xét và giải quyết. Xin chân thành cảm ơn.

Người tố cáo

(ký và ghi rõ họ tên)

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

 

5. Một số câu hỏi liên quan về tố cáo lừa đảo qua mạng

Dưới đây là một số câu hỏi có liên quan đến việc làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo qua mạng xã hội:

5.1. Cách làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo trên facebook?

Kính chào các Quý Luật sư Công ty Luật Minh Khuê, Tôi có vấn đề sau mong các quý luật sư giải đáp giúp tôi : Tôi có quen 1 người bán hàng trên mạng xã hội facebook. Cô ấy năm nay 20 tuổi. Cô ấy có giao dịch bán hàng với 1 số bạn ở tỉnh khác thông qua thẻ ngân hàng atm.

Họ chuyển tiền vào tài khoản cô ấy. Cô ấy nhận đươc tiền nhưng không gửi đồ cho họ (đồ chủ yếu là quần áo). Có một số người thì cô ấy gửi đồ cho. Còn đa phần là không gửi . Xong cô ấy mất thẻ atm , mượn thẻ atm của bạn thân để tiếp tục hành vi trên. Nếu gộp tất cả những người đã chuyển tiền cho cô ấy mà chưa nhận được hàng thì khoảng 5,6 người. Tổng số tiền lên đến gần 15 triệu. Còn tách ra thì có người 600.000đ, có người 2.000.000đ - 3.000.000đ.

Vậy, tôi muốn hỏi quý luật sư là những bạn kia có làm đơn tố cáo cô bạn kia về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được không? Cô bạn thân cho mượn thẻ atm có bị liên quan không? Và nếu bị đưa ra pháp luật thì cô bán hàng kia mắc phải những tội gì?

Mong quý luật sự tư vấn cho tôi trường hợp này. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về hành vi lừa đảo, gọi số: 1900.6162

 

Trả lời:

Căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ."

Dấu hiệu pháp lý: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu: Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên; hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt hoặc về một trong các tội quy định tại điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;....

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau. Đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt. giữa hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối.

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.

Xét về mặt khách quan, hành vi lừa dối là hành vi đưa ra những thông tin giả. Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó la sự thật. hành vi lừa dối như vậy có thể được thực hiện qua lời nói, việc xuất trình những giấy tờ sai sự thật hoặc qua những việc làm cụ thể (cân, đong, đo, đếm thiếu).

Ở mỗi hình thức như vật người phạm tội có thể có những thủ đoạn thực hiện cụ thể khác nhau. Những thủ đoạn thực hiện cụ thể này không có ý nghĩa về mặt định tội. Đã là hành vi lừa dối thì dù được thực hiện bằng thủ đoạn nào cũng đều có thể là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Hành vi lừa dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện là nhằm thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Những hành vi lừa dối nhằm mục đích khác dù mục đích này có tính tư lợi cũng không phải là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo có hai hình thức thể hiện cụ thể:

- Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã giao nhầm tài sản. Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản định chiếm đoạt và người bị lừa dối mất khả năng làm chủ tài sản đó trên thực tế. Tội lừa đảo coi là hoàn thành ở thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

- Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản (nhận thiếu, nhận sai loại tài sản được nhận) hoặc không nhận. Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm cho được tài sản bị chiếm đoạt và người bị lừa dối đã mất tài sản đó. Tội phạm coi là hoàn thành từ thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

Thông thường hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra kế tiếp ngay sau hành vi lừa dối. Nhưng cũng có trường hợp giữa hau hành vi này có khoảng cách nhất định về thời gian. Ở đây cần chú ý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt xảy ra.

- Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Người phạm tôi biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.

Theo đó, căn cứ vào những dấu hiệu của “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và những tình tiết bạn đưa ra, những người bị hại có thể thực tố cáo người có hành vi lừa đảo đó tại cơ quan công an nơi người đó đang cư trú. Kèm theo đơn tố cáo là những bằng chứng, chứng cứ chứng minh cho hành vi lừa đảo này.

Tham khảo ngay: Mẫu đơn tố cáo. Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực hình sự vui lòng trao đổi trực tiếp với đội ngũ 1900.6162 để được hỗ trợ trực tiếp.

 

5.2. Đơn tố cáo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản viết như thế nào?

Xin chào luật sư, tôi xin trình bày vụ việc của mình như sau: Tôi được biết anh Ân thông qua một người bạn tên Phương, do vậy tôi có đến nhà trọ của anh Ân hai lần. Vào 10 giờ, ngày 27/3/2016, tôi có đến phòng trọ của anh Ân theo lời mời của anh.

Khi tôi đến phòng thì có anh Ân cùng vợ và anh vợ của Ân và hai người bạn khác đang ngồi nhậu. Tôi ngồi xuống uống cùng được một lúc thì anh Ân thấy tôi có đeo một chiếc nhẫn vàng 18k, nên anh Ân khen nhẫn đẹp và có ý hỏi mượn để đeo một lúc. Tôi cũng chấp nhận vì nghĩ có nhiều người thấy và anh Ân còn thốt lên với mọi người đây là nhẫn mượn. Nhậu xong mọi người ra về còn anh Ân, tôi và anh vợ của Ân, nên rủ nhau đi chơi bi-a, lúc này dù tôi có rượu trong người nhưng vẫn tỉnh táo để gợi ý lấy lại chiếc nhẫn, nhưng anh Ân nói: “mầy không tin tao hả, anh em gì mà không tin tao ?”. Thấy vậy, tôi cũng để anh Ân đeo nhẫn vì tôi nghĩ ai cũng có rượu trong người nên không muốn cãi vã, về nhà trọ có mọi người mình lấy lại cũng được. Chơi bi-a xong, anh Ân tiếp tục rủ tôi đi hát karaoke tại một quán trên đường 3/2, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Đến 18 giờ cùng ngày, Do chi phí hát karaoke khá lớn nên khi đến lúc thanh toán thì không ai còn đủ tiền để trả nên anh Ân nói: “để tao về nhà lấy tiền, mầy tin tao thì ở lại đây đợi”. Khi đó anh Ân cùng người anh vợ nhanh chóng lên xe về tới nhà, tôi thì ở lại đợi rất lâu và gọi điện thoại cho anh Ân thì không trả lời, anh Ân chỉ bắt máy và giả vờ như không nghe tôi nói gì. Thấy vậy tôi đành bỏ xe thế chấp cho quán karaoke và gọi điện thoại nhờ người bạn đến và đưa tôi gặp anh Ân. Đến nơi tôi yêu cầu anh Ân đưa tiền để tôi trả chi phí hát karaoke nhưng anh Ân nói không có và nói với tôi chi trả hết sau này sẽ trả lại từ từ. Tôi tiếp tục yêu cầu anh Ân trả chiếc nhẫn vàng lại cho tôi thì anh Ân trả lời đã đưa cho tôi rồi.

Tôi như vừa bị sét đánh trúng, mắt tối sầm lại, vì không ngờ anh Ân lại dối trá trắng trợn như vậy. Lúc này tôi mới nhận ra rằng toàn bộ sự việc đều do anh Ân sắp đặt, đưa tôi đi chơi rồi buộc tôi trả tiền chi phí một cách gian dối và đã có ý chiếm đoạt chiếc nhẫn của tôi từ trước. Vài ngày sau tôi tiếp tục tìm gặp thì anh Ân có chi trả với tôi phí karaoke, và hứa sẽ làm từ từ và mua lại chiếc nhẫn khác đền cho tôi. Thấy vậy, tôi cũng chấp nhận vì nhận thấy vợ anh Ân vừa sinh con nên tôi không muốn gây khó khăn, mặc khác anh Ân cũng đã có lời hứa với tôi. Cho đến những ngày gần đây, tôi khó liên lạc với anh Ân, gọi điện thoại thì không ai trả lời, tôi vượt đường xá xôi đến tận phòng trọ cũng không gặp.

Vậy xin luật sư tư vấn:

1. Theo nội dung sự việc như trên, tôi có thể tiến hành tố cáo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hay không?

2. Khi xảy ra sự việc thì tôi trình đơn này cho Công An phường nơi đối tượng sinh sống, như vậy đúng hay không?

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

1. Theo nội dung sự việc như trên, tôi có thể tiến hành tố cáo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hay không?

Theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Dấu hiệu kết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

  • Cần dựa vào giá trị của tài sản, vậy nếu tài sản của bạn từ 2 triệu đồng trở lên thì hành vi của anh Ân có dấu hiệu của tội này.
  • Sử dụng thủ đoạn gian dối: Ở đây anh Ân có hành vi nói dối mượn chiếc nhẫn đó và sẽ trả.

Vậy nếu đảm bảo 2 điều kiện trên thì anh Ân hoàn toàn có thế bị kết tôi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật.

2. Khi xảy ra sự việc thì tôi trình đơn này cho Công An phường nơi đối tượng sinh sống, như vậy đúng hay không?

Theo điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì: Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

+ Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

  • Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
  • Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

Do vậy, bạn có thể nộp tại nơi đối tượng sinh sống hoặc tại nơi xảy ra hành vi lừa đảo hoặc tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án theo quy định pháp luật.