- 1. Chiếm đoạt trên 20 triệu đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- 1.1. Cấu thành tội lừa đảo (Dấu hiệu bắt buộc)
- 1.2. Khung hình phạt tội lừa đảo
- 1.3. Lừa đảo trên 20 triệu bị phạt bao nhiêu năm tù?
- 1.4. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 50 triệu đi tù bao nhiêu năm?
- 1.5. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 100 triệu đi tù bao nhiêu năm?
- 1.5. Cách xác định giá trị tài sản
- 2. Chiếm đoạt tài sản trên 20 triệu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- 2.1. Cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm (Dấu hiệu Bắt buộc)
- 2.2. Khung hình phạt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- 2.3. Hình phạt phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên 20 triệu đồng?
- 3. Phân biệt tội lừa đảo và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- 4. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức hình phạt
- 4.1. Giải thích các khái niệm pháp lý quan trọng
- 4.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự
- 4.3. Hình phạt bổ sung và trách nhiệm bồi thường
- Kết luận
Hành vi chiếm đoạt tài sản từ 20 triệu đồng trở lên có thể cấu thành 1 trong 2 tội danh: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật hình sự) hoặc Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật hình sự). Điểm chung cả hai tội danh này đều xâm phạm quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ nhưng căn cứ vào tính chất của hành vi để có thể định tội. Cụ thể như sau:
1. Chiếm đoạt trên 20 triệu đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật.
1.1. Cấu thành tội lừa đảo (Dấu hiệu bắt buộc)
Một hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bắt buộc phải thoả mãn 04 dấu hiệu sau:
Chủ thể: Phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Mặt Khách thể: Tội phạm xâm phạm trực tiếp tới quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác.
Mặt Chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là gian dối, trái pháp luật và mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Điều quan trọng nhất để phân biệt tội danh này là ý định chiếm đoạt tài sản phải nảy sinh trước khi người phạm tội thực hiện hành vi gian dối để nhận tài sản.
Mặt Khách quan:
- Hành vi cốt lõi: Người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối là việc đưa ra thông tin sai sự thật (giả mạo) khiến người bị hại tin là thật và tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội.
- Ngưỡng Giá trị Tài sản: Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên.
Trường hợp giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng, vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp nghiêm trọng hơn, ví dụ: đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt; đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản mà chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại.
1.2. Khung hình phạt tội lừa đảo
Điều 174 quy định bốn khung hình phạt chính, với mức phạt tối đa là tù chung thân.
| Khung hình phạt (Khoản) | Ngưỡng giá trị tài sản/Tình tiết định khung | Mức hình phạt chính |
| Khoản 1 (Cơ bản) | Từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng (hoặc dưới 2M kèm điều kiện đặc biệt). | Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. |
| Khoản 2 (Tăng nặng) | Từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Lợi dụng chức vụ/quyền hạn; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Tái phạm nguy hiểm. | Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. |
| Khoản 3 (Tăng nặng đặc biệt) | Từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. | Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. |
| Khoản 4 (Cao nhất) | Từ 500.000.000 đồng trở lên; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. | Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. |
1.3. Lừa đảo trên 20 triệu bị phạt bao nhiêu năm tù?
Căn cứ theo phân tích trên, trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản với giá trị trên 20.000.000 đồng (20 triệu đồng) sẽ thuộc vào khung hình phạt cơ bản (Khoản 1) của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Cụ thể, mức hình phạt được áp dụng như sau:
Xác định khung hình phạt: Giá trị tài sản chiếm đoạt là trên 20.000.000 đồng, nằm trong ngưỡng quy định tại Khoản 1 Điều 174, đó là chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
Mức hình phạt chính: Người phạm tội sẽ bị phạt:
- Cải tạo không giam giữ đến 03 năm;
- Hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Lưu ý: Mức phạt này là khung cơ bản (Khoản 1). Nếu hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá trên 20.000.000 đồng còn kèm theo các tình tiết tăng nặng định khung khác (ví dụ: có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, dùng thủ đoạn xảo quyệt, tái phạm nguy hiểm) thì mức hình phạt có thể chuyển sang khung 2 (phạt tù từ 02 năm đến 07 năm).
Ví dụ: Ông Nguyễn Văn Thanh mới mua chiếc điện thoại IPhone 17 giá 45.000.000 đồng. Ông Trần Văn Toàn (người qua đường, không quen biết) hỏi mượn chiếc điện thoại này để gọi cho con gái có việc gấp. Ông Thanh cho Ông Toàn mượn, lợi dụng lúc ông Thanh không để ý, Ông Toản đã mang chiếc điện thoại ra bán để tiêu xài vào mục đích cá nhân. Hành vi của Ông Trần Văn Toàn phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Việc Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 giữ lại hình phạt tù chung thân cho tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Khoản 4 Điều 174) cho thấy mức độ nghiêm trọng mà nhà làm luật gán cho hành vi này, đặc biệt khi nó liên quan đến việc lạm dụng lòng tin hoặc gây thiệt hại quy mô lớn bằng thủ đoạn gian dối ngay từ đầu.
1.4. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 50 triệu đi tù bao nhiêu năm?
Hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) trị giá trên 50.000.000 đồng (50 triệu đồng) sẽ bị xử lý hình sự theo các khung hình phạt tăng nặng của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Mức hình phạt cụ thể sẽ phụ thuộc vào tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Với mức trên 50 triệu đồng sẽ áp dụng khoản 2 Điều 174 BLHS thì mức hành phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Khoản này cũng áp dụng nếu giá trị tài sản dưới 50 triệu đồng nhưng kèm theo các tình tiết tăng nặng định khung khác, ví dụ như: có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, hoặc tái phạm nguy hiểm.
Tóm lại, nếu lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 50 triệu đồng, người phạm tội tối thiểu phải đối diện với mức phạt tù từ 02 năm và mức phạt tối đa có thể lên đến 07 năm tù, tùy thuộc vào giá trị tài sản chiếm đoạt và các tình tiết tăng nặng khác trong vụ án.
1.5. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 100 triệu đi tù bao nhiêu năm?
Hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá trên 100.000.000 đồng (100 triệu đồng) sẽ bị xử lý theo khung hình phạt tăng nặng (Khoản 2) của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Giá trị tài sản chiếm đoạt là trên 100.000.000 đồng, nằm trong khoảng từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng. Do đó, hành vi này thuộc về Khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Theo Khoản 2 Điều 174 BLHS, người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Mức phạt này được áp dụng ngay cả khi giá trị tài sản chỉ vượt ngưỡng 50 triệu đồng (ví dụ: 51 triệu đồng) cho đến khi đạt ngưỡng 200 triệu đồng.
Mức phạt từ 02 năm đến 07 năm là mức phạt cơ bản cho khung 2. Nếu tài sản chiếm đoạt vượt qua ngưỡng 100 triệu đồng thường mức phạt sẽ ở giữa khung khoảng hơn 4 năm tù. Mức phạt có thể tăng hơn hoặc giảm đi phụ thuộc vào các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ của người phạm tội.
1.5. Cách xác định giá trị tài sản
Quá trình xác định giá trị tài sản trong vụ án lừa đảo thường được thực hiện bởi các cơ quan tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án). Về cơ bản, việc này có thể dựa vào các nguồn sau:
- Lời khai của bị hại: Bị hại cung cấp thông tin về loại tài sản, số lượng, giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt. Đây là cơ sở ban đầu nhưng cần được kiểm tra, đối chiếu.
- Chứng cứ, tài liệu: Các tài liệu như hợp đồng, hóa đơn, phiếu thu, giấy tờ mua bán, sổ sách kế toán, tin nhắn, email... có thể chứng minh giá trị tài sản.
- Tài liệu về giá thị trường: Cơ quan tố tụng có thể thu thập thông tin về giá thị trường của loại tài sản tương tự tại thời điểm xảy ra vụ việc để làm căn cứ.
Việc định giá tài sản căn cứ quy định tại Nghị định số 250/2025/NĐ-CP quy định chi tiết về việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản, cũng như trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Đây là văn bản hướng dẫn chi tiết, cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị định này thay thế cho các văn bản trước đó như Nghị định 30/2018/NĐ-CP và Nghị định 97/2019/NĐ-CP.
2. Chiếm đoạt tài sản trên 20 triệu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 175 khác biệt về bản chất hành vi và thời điểm phát sinh ý thức chiếm đoạt.
2.1. Cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm (Dấu hiệu Bắt buộc)
Mặt Khách quan:
Yếu tố Khởi đầu: Người phạm tội nhận được tài sản một cách hợp pháp thông qua các hình thức hợp đồng như vay, mượn, hoặc thuê tài sản của người khác.
Hành vi Chiếm đoạt: Sau khi có tài sản hợp pháp, người phạm tội thực hiện một trong ba hành vi sau nhằm chiếm đoạt:
- Sử dụng thủ đoạn gian dối (sau khi đã nhận tài sản) hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.
- Đến thời hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện và khả năng, nhưng cố tình không trả.
- Đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp (ví dụ: đánh bạc, buôn lậu) dẫn đến không còn khả năng trả lại tài sản.
Mặt Chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Điểm phân biệt cốt yếu là ý định chiếm đoạt tài sản nảy sinh sau khi người phạm tội đã nhận được tài sản hợp pháp.
Ngưỡng giá trị tài sản: Phải từ 4.000.000 đồng trở lên để cấu thành tội phạm. Trường hợp dưới 4.000.000 đồng vẫn bị truy cứu nếu thuộc một trong các trường hợp đặc biệt đã nêu (đã bị xử phạt hành chính, tái phạm, tài sản là phương tiện kiếm sống chính, hoặc có giá trị tinh thần đặc biệt).
2.2. Khung hình phạt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Điều 175 quy định các khung hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến phạt tù 20 năm.
| Khung Hình phạt (Khoản) | Ngưỡng Giá trị Tài sản/Tình tiết Định khung | Mức Hình phạt Chính |
| Khoản 1 (Cơ bản) | Từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng (hoặc dưới 4M kèm điều kiện đặc biệt). | Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. |
| Khoản 2 (Tăng nặng) | Từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp ; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Tái phạm nguy hiểm. | Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. |
| Khoản 3 (Tăng nặng đặc biệt) | Từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng ; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. | Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm. |
| Khoản 4 (Cao nhất) | Từ 500.000.000 đồng trở lên. | Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. |
2.3. Hình phạt phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên 20 triệu đồng?
Trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá 20.000.000 đồng (20 triệu đồng) thông qua hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sẽ được xem xét và xử lý theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Mức hình phạt áp dụng cho hành vi này thuộc Khung hình phạt cơ bản (Khoản 1 Điều 175), cụ thể như sau:
Hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 20.000.000 đồng nằm trong ngưỡng quy định tại Khoản 1 Điều 175 :
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng (20 triệu đồng nằm trong khoảng này).
Theo Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự, người phạm tội sẽ phải đối diện với một trong các hình phạt sau :
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm;
- Hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Lưu ý quan trọng về các tình tiết tăng nặng: Mức hình phạt tối đa là 03 năm tù chỉ áp dụng nếu không có bất kỳ tình tiết tăng nặng định khung nào đi kèm.
Tuy nhiên, nếu hành vi chiếm đoạt 20.000.000 đồng kèm theo các tình tiết tăng nặng định khung khác (dù giá trị tài sản chưa đạt ngưỡng của Khung 2), người phạm tội vẫn có thể bị xử lý theo Khoản 2 Điều 175, với mức phạt tù nghiêm khắc hơn :
- Khung 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Các tình tiết tăng nặng định khung có thể bao gồm: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Tái phạm nguy hiểm.
Tóm lại, Hành vi chiếm đoạt tài sản có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dựa trên ý định của hành vi chiếm đoạt có từ trước hay sau thời điểm chiếm đoạt tài sản và mối quan hệ giữa nhạn nhân và thủ phạm.
3. Phân biệt tội lừa đảo và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Việc phân biệt giữa Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) và Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) là một trong những vấn đề khó khăn nhất trong thực tiễn xét xử, đặc biệt là các vụ án kinh tế phức tạp. Sự khác biệt cốt lõi nằm ở thời điểm phát sinh ý thức chiếm đoạt và cách thức người phạm tội có được tài sản ban đầu.
- Tội Lừa đảo (Điều 174): Ý chí chiếm đoạt tài sản đã có trước khi người phạm tội tiếp cận tài sản. Thủ đoạn gian dối (như giả mạo giấy tờ, thông tin) được sử dụng ngay từ đầu nhằm mục đích khiến người bị hại tự nguyện giao tài sản.
- Tội Lạm dụng Tín nhiệm (Điều 175): Việc nhận tài sản ban đầu là hoàn toàn hợp pháp thông qua một hợp đồng dân sự (vay, mượn, thuê). Ý chí chiếm đoạt chỉ nảy sinh sau đó, khi người phạm tội quyết định không trả, bỏ trốn, hoặc dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp.
Sự khác biệt về ngưỡng giá trị tài sản khởi điểm để truy cứu trách nhiệm hình sự (2.000.000 đồng cho Lừa đảo so với 4.000.000 đồng cho Lạm dụng tín nhiệm) và mức hình phạt cao nhất (tù chung thân cho Lừa đảo so với 20 năm cho Lạm dụng tín nhiệm) cũng phản ánh quan điểm của nhà làm luật rằng hành vi lừa đảo bằng thủ đoạn gian dối ngay từ đầu có tính nguy hiểm xã hội cao hơn.
Bảng so sánh chi tiết tội lừa đảo (Điều 174) và Tội lạm dụng tín nhiệm (Điều 175)
| Tiêu chí Phân biệt | Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) | Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) |
| Hành vi Khách quan | Dùng thủ đoạn gian dối để nhận tài sản. | Nhận tài sản hợp pháp (hợp đồng vay/mượn/thuê) sau đó mới chiếm đoạt. |
| Thời điểm Phát sinh Ý thức Chiếm đoạt | Trước khi nhận tài sản. | Sau khi nhận tài sản. |
| Ngưỡng Giá trị Tài sản | Từ 2.000.000 đồng trở lên. | Từ 4.000.000 đồng trở lên. |
| Khung Hình phạt Cao nhất | Tù chung thân. | 20 năm tù. |
| Đối tượng Thực hiện | Bất kỳ ai, không nhất thiết thông qua hợp đồng. | Người được giao tài sản thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê. |
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức hình phạt
Mức hình phạt áp dụng cho các tội chiếm đoạt tài sản không chỉ phụ thuộc vào giá trị tài sản mà còn bị chi phối bởi các tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chung.
4.1. Giải thích các khái niệm pháp lý quan trọng
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Tình tiết này (được quy định tại Khoản 2 Điều 174 và Điều 175) được áp dụng khi người phạm tội coi việc phạm tội là nguồn thu nhập chính hoặc phụ, thực hiện tội phạm một cách thường xuyên, có tổ chức hoặc có sự chuẩn bị. Việc quy định "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" là tình tiết định khung trong Điều 175 được đánh giá là hợp lý và cần thiết để tăng tính răn đe đối với những người biến việc lạm dụng tín nhiệm thành một phương thức kiếm sống.
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là tình tiết định khung nghiêm trọng. Người phạm tội được xác định là tái phạm nguy hiểm khi họ cố ý phạm tội mới hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý, trong khi đã từng bị kết án và chưa được xóa án tích.
- Sự liên kết giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự thể hiện rõ qua khái niệm này. Nếu người phạm tội chưa chấp hành xong khoản bồi thường dân sự của bản án trước, họ có thể chưa được xóa án tích. Việc chưa được xóa án tích này sẽ là cơ sở pháp lý để áp dụng tình tiết "tái phạm nguy hiểm" cho tội phạm tiếp theo. Như vậy, nghĩa vụ dân sự chưa hoàn thành trực tiếp làm tăng mức độ nghiêm trọng của trách nhiệm hình sự trong tương lai.
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt: Đây là một tình tiết định khung tăng nặng trong Khoản 2 của cả Điều 174 và Điều 175. Tuy nhiên, theo nguyên tắc pháp luật hình sự Việt Nam, một tình tiết đã được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung. Do đó, nếu hành vi lừa đảo được truy cứu ở Khung 2 do có yếu tố xảo quyệt, tình tiết này sẽ không được sử dụng thêm một lần nữa để tăng nặng hình phạt (nguyên tắc không áp dụng kép).
4.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự
Trong quá trình xét xử, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 51 BLHS) đóng vai trò quan trọng trong việc cá thể hóa hình phạt. Đặc biệt, việc tự nguyện sửa chữa và bồi thường thiệt hại là một tình tiết giảm nhẹ quan trọng. Tòa án khuyến khích việc bồi thường thiệt hại kịp thời bởi điều này thể hiện thái độ ăn năn, hối cải của người phạm tội và giúp khắc phục hậu quả cho người bị hại, từ đó làm giảm mức hình phạt áp dụng.
4.3. Hình phạt bổ sung và trách nhiệm bồi thường
Ngoài hình phạt chính (tù hoặc cải tạo không giam giữ), người phạm tội chiếm đoạt tài sản còn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung và trách nhiệm dân sự.
Cả Điều 174 và Điều 175 đều quy định các hình phạt bổ sung tại Khoản 5:
- Phạt tiền: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định: Áp dụng từ 01 năm đến 05 năm. Điểm mới của BLHS 2015/2017 là việc mở rộng phạm vi cấm này cho bất kỳ công việc nào có liên quan đến hành vi phạm tội.
- Tịch thu tài sản: Người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và thu hồi tài sản:
- Trách nhiệm bồi thường: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (trách nhiệm dân sự) được giải quyết đồng thời trong vụ án hình sự. Thiệt hại phải được bồi thường nhanh chóng, kịp thời nhằm ngăn chặn, hạn chế và khắc phục hậu quả. Phạm vi bồi thường bao gồm các thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần theo quy định của Bộ luật Dân sự.
- Thu hồi tài sản: Đây là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong các vụ án hình sự về kinh tế. Các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) có cơ sở pháp lý để xử lý đồng thời các tài sản bị kê biên, phong tỏa hoặc tuyên xử lý trong bản án hình sự. Việc thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt đóng vai trò kép: một mặt khôi phục quyền lợi cho người bị hại, mặt khác đảm bảo việc chấp hành án và là cơ sở để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội.
- Trách nhiệm Dân sự liên đới trong vụ án Hình sự: Như đã phân tích từ Công văn 196/TANDTC-PC , trách nhiệm bồi thường thiệt hại được gắn với lỗi gây ra thiệt hại. Nếu một bên thứ ba (như công chứng viên) không có lỗi đồng phạm hoặc không biết về hành vi gian dối nhưng hoạt động của họ vô tình tạo điều kiện cho tội phạm, họ sẽ không bị buộc chịu trách nhiệm liên đới bồi thường. Điều này đảm bảo rằng trách nhiệm dân sự tập trung vào người thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Kết luận
Pháp luật hình sự Việt Nam đã thiết lập cơ chế phân hóa rõ rệt giữa Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175), chủ yếu dựa trên yếu tố thời điểm phát sinh ý chí chiếm đoạt (trước hay sau khi có tài sản). Tội Lừa đảo, với ý chí chiếm đoạt tiền định, bị coi là nguy hiểm hơn (ngưỡng khởi điểm 2 triệu đồng và hình phạt cao nhất là tù chung thân), trong khi Tội Lạm dụng tín nhiệm có ngưỡng khởi điểm cao hơn (4 triệu đồng) và mức phạt tối đa là 20 năm.
Mọi vướng mắc liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản Bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.