1. Toà án bảo vệ quyền con người bằng tố tụng dân sự

Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án trong lĩnh vực dân sự ở Việt Nam từ 2004 đã có sự thống nhất với việc ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự chung. Điều này thể hiện quan điểm của Nhà nước coi các quan hệ xã hội là quan hệ dân sự rộng hơn trước, bao gồm cả các tranh chấp về kinh doanh thương mại, lao động. Sự hợp nhất các thủ tục tố tụng trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh thương mại, lao động tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tự bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời cũng giúp các toà án dễ dàng hơn trong việc thực hiện vai trò bảo vệ quyền con người của mình. Nói cách khác, cơ chế bảo vệ quyền con người bằng toà án đã đỡ phức tạp hơn.

Cơ chế để toà án bảo vệ quyền con người bằng tố tụng dân sự Việt Nam thể hiện trong các nguyên tắc của tổ tụng dân sự (Bộ luật TTDS quy định 22 nguyên tắc). Đó là các nguyên tắc đặc trưng của Tố tụng dân sự: Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền" (Điều 7); "Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự (Điều 10); "Trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự" (Điều 13); "Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự" (Điều 14); "Trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Toà án" (Điều 22); "Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự" (Điều 24). Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự (Điều 8).

2. Sự tự nguyện, bình đẳng và tôn trọng tự thỏa thuận trong tố tụng dân sự

Sự tự nguyện, bình đẳng và tôn trọng tự thỏa thuận là những tư tưởng xuyên suốt nội dung, hình thức và cơ chế vận hành của pháp luật, trong đó có tố tụng dân sự. Điều đó cũng được thể hiện trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành. Việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực dân sự do phía các đương sự tự nguyện và chủ động khởi xướng và thực hiện. Nó bắt đầu ngay từ khi khởi kiện hay không khởi kiện. Trong việc tiếp tục hay từ bỏ việc khởi kiện, cung cấp chứng cứ, tham gia phiên tòa, tự bảo vệ hay nhờ người khác bảo vệ quyền lợi của mình. Nhà nước nói chung và toà án nói riêng càng ít can thiệp vào các quyền tố tụng dân sự của đương sự càng tốt bởi lẽ việc dân sự cốt ở đôi bên. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là toà án đóng vai trò mờ nhạt trong cơ chế giải quyết các vụ án dân sự. Ngược lại, nhiệm vụ của tòa án là tạo điều kiện và cơ hội tốt nhất cho các bên tự bảo vệ quyền lợi của mình. Chính vì vậy, tố tụng dân sự Việt Nam có những quy định thể hiện rất rõ điều này. Đó là các quy định về thẩm quyền của toà án. Các quy định về thủ tục và cơ chế để các đương sự thu thập, giao nộp chứng cứ, tham gia tích cực và chủ động vào quá trình tố tụng, quy định các trường hợp cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện nhằm mục đích bảo vệ lợi ích chung, về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của cơ quan nhà nước; các quy định về miễn, giảm án phí... vừa đảm bảo cho các đương sự tự bảo vệ quyền lợi của mình vừa đảm bảo cho toà án có quyết định, bản án đạt đến công lý. Vai trò của tòa án trong cơ chế bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực dân sự côn thể hiện trong các quy định về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án các cấp. Theo đó, toà án không chỉ là người phân xử các tranh chấp mà còn là cơ quan công nhận, khẳng định các quyền của con người thể hiện ỏ các thủ tục giải quyết các việc dân sự như: giải quyết các khiếu nại về danh sách cử tri; giải quyết các yêu cầu tuyên bố- một người mất năng lực hành vi dân sự, tuyên bố một người mất tích hay đã chết

Như vậy, đặc trưng nổi bật của cơ chế toà án bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực dân sự đó chính là sự tôn trọng quyền tự quyết, tự thoả thuận của đương sự và toà án luôn đóng vai trò thúc đẩy, tạo điều kiện cho họ tự bảo vệ quyền con người của mình.

3. Thời hiệu khởi kiện

Quyền con người trong tố tụng dân sự đã và đang được cụ thể hóa trong văn bản quy phạm pháp luật mà điển hình là Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam. Năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự được xây dựng; đến năm 2011, Bộ luật Tố tụng dân sự lại được tiến hành sửa đổi, bổ sung, và gần đây nhất, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được ban hành đã làm hoàn thiện và sâu sắc hơn cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự.
Trước kia Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, tại Điều 159 quy định, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Điều này cũng quy định, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau: “a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
Tuy nhiên sang đến Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, tinh thần pháp luật đã thay đổi, theo đó quyền và lợi ích của các chủ thể được bảo vệ triệt để hơn. Cụ thể, Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự như sau: “1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. 2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”. Theo quy định trên, việc áp dụng thời hiệu này sẽ không tự động phát sinh mà chỉ được áp dụng nếu như có yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên và yêu cầu phải được đưa ra trước khi Tòa án đưa ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Điều này trên thực tế được hiểu là Tòa án sẽ không được từ chối thụ lý vụ việc vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Bất cứ yêu cầu hợp lý của nguyên đơn - nguyên đơn chứng minh là người có quyền yêu cầu thì Tòa án đều phải thụ lý giải quyết. Sau khi Tòa án thụ lý thì theo yêu cầu của một bên hoặc hai bên Tòa án sẽ áp dụng thời hiệu khởi kiện để xét xem vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện chưa, nếu có căn cứ để cho rằng vụ việc đã quá thời hiệu khởi kiện thì tòa án khi đó mới ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc với lý do là vụ việc đã hết thời hiệu khởi kiện.

4. Thẩm quyền của Tòa án

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền của Tòa án theo hướng tất cả những tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp theo quy định của luật thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác.

Quy định này nhằm tạo điều kiện để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; đồng thời, để phù hợp với nguyên tắc “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Bộ luật này cũng bổ sung, quy định đầy đủ, cụ thể những loại tranh chấp và việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án bảo đảm phù hợp với luật nội dung đã quy định, như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Luật Thi hành án dân sự…

BLTTDS năm 2015 sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng để làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng trên cơ sở pháp điển hóa các văn bản hiện hành có liên quan; bổ sung quy định Thẩm tra viên, Kiểm tra viên là người tiến hành tố tụng và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể này để phù hợp với Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; bổ sung quy định Chánh án Tòa án khi giải quyết các vụ việc dân sự có quyền kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên nhằm cụ thể hóa và bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với quy định tại khoản 7 Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2014.

5. Một số nguyên tắc trong tố tụng dân sự

So với BLTTDS cũ, những nội dung mới quan trọng nhất về những nguyên tắc cơ bản của TTDS trong BLTTDS năm 2015, cụ thể là: Bổ sung nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, việc giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật Dân sự (BLDS) và BLTTDS quy định (khoản 2 Điều 4).

BLTTDS năm 2015 còn bổ sung nguyên tắc “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” nhằm cụ thể hóa quy định tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)