1. Hiểu như thế nào về đánh giá hồ sơ dự thầu?
- Hiện nay, tại khoản 31 Điều 4 Luật đấu thầu 2013 có định nghĩa "Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất là toàn bộ tài liệu do nhà thầu, nhà đầu tư lập và nộp cho bên mời thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu." Theo đó, đánh giá hồ sơ dự thuần là đánh giá về toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập và nộp cho bên mời thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu theo nội dung và trình tự mà pháp luật quy định
- Việc đanh giá hồ sơ dự thầu phải được tiến hành theo đúng các nguyên tắc được quy định tại Điều 15 Nghị định 63/2014/N Đ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, theo đó:
+ Việc đánh giá hồ sơ dự thầu phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu, căn cứ vào hồ sơ dự thầu đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ hồ sơ dự thầu của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu. Như vậy, nguyên tắc đâu tiên cần phải tuân thủ khi đánh giá hồ sơ dự thầu là phải tiến hành dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thấu cũng như các yêu cầu khác trong hồ sơ dự thâu, ngoài ra còn phải đánh giá căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ dự thầu đã nộp, mục đích bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm.
+ Việc đánh giá được thực hiện trên bản chụp, nhà thầu phải chịu trách nhiệm về tính thống nhất giữa bản gốc và bản chụp. Trường hợp có sự sai khác giữa bản gốc và bản chụp nhưng không làm thay đổi thứ tự xếp hạng nhà thầu thì căn cứ vào bản gốc để đánh giá. Nguyên tắc thứ hai mà pháp luật quy định trong việc đánh giá nhà thầu đó là phải thực hiện đánh giá căn cứ trên bản chụp và trong trường hợp có sự không thống nhất giữa bản chính và bản gốc nhưng không làm thay đổi thứ tự xếp hạng nhà thầu thì việc đánh giá căn cứ vào bản gốc.
+ Trường hợp có sự sai khác giữa bản gốc và bản chụp dẫn đến kết quả đánh giá trên bản gốc khác kết quả đánh giá trên bản chụp, làm thay đổi thứ tự xếp hạng nhà thầu thì hồ sơ dự thầu của nhà thầu bị loại. Pháp luật cũng nêu ra nguyên tắc khi có sự không nhất quán giữa bản gốc và bản chụp mà làm thay đổi thứ tự xếp hạng nhà thầu thì hồ sơ dự thầu của nhà thầu bi loại.
2. Quy định của pháp luật về đánh giá hồ sơ dự thầu
Việc đánh giá hồ sơ dự thầu được thực hiện theo quy định tại Điều 18 Nghị định 63/2014/NĐ-CP. Cụ thể, trình tự đánh giá hồ sơ dự thầu được tiến hành về cơ bản theo các bước sau đây:
- Bước 1: Tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu,
- Bước 2: Tiên hành việc kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu: Hồ sơ dự thầu của nhà thầu được đánh giá là hợp lệ khi đáp ứng đầy đủ các nội dung cụ được quy định cụ thể tại Nghị định 63/2014/NĐ-CP có thể kể đến một số nội dung sau:
- Bước 3: Đánh giá về năng lực và kinh nghiệm:
- Bước 4: Đánh giá về kỹ thuật và giá:
- Bước 5: Sau khi lựa chọn được danh sách xếp hạng nhà thầu, tổ chuyên gia lập báo cáo gửi bên mời thầu để xem xét. Trong báo cáo phải nêu rõ các nội dung theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, việc đánh giá hồ sơ dự thầu còn phải được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 5 Thông tư 23/2015/TT-BKHĐT, cụ thể:
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 23/2015/TT-BKHĐT đánh giá hồ sơ dự thầu phải tuân thủ theo quy định của Luật đấu thầu số 43/2013/QH13, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP và hồ sơ mời thầu.
- Trong quy chế làm việc hoặc trong cách thức làm việc của tổ chuyên gia ở báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu phải nêu rõ cách xử lý trong trường hợp một thành viên trong tổ chuyên gia có ý kiến khác biệt so với đa số thành viên khác. Thành viên của tổ chuyên gia được quyền bảo lưu ý kiến của mình. Như vậy, các chuyên gia ở báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu pháp luật quy định cần phải nêu rõ cách xử lý trong trường hợp một thành viên trong tổ chuyên gia có ý kiến khác biệt so với đa số thành viên.
- Đối với các nhà thầu cùng lúc tham dự thầu nhiều gói thầu và được đánh giá xếp hạng thứ nhất đối với gói thầu này đồng thời trúng thầu ở một hoặc nhiều gói thầu khác thì chủ đầu tư, bên mời thầu phải làm rõ khả năng thực hiện gói thầu của nhà thầu này trong quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng. Pháp luật có quy định đối với các nhà thầu cùng lúc tham sự thầu nhiều gói và theo quy định được xếp thứ hạng nhất đối với gói thầu này dôngd thời trúng thầu ở một hoặc nhiều gói thầu khác thì theo quy định của pháp luật các chủ đầu tư, bên mời thầu phải làm rõ khả năng thực hiện gói thầu trong chương trình, hoàn thiện hợp đồng.
- Trường hợp gói thầu áp dụng phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ, bên mời thầu phải gửi thông báo bằng văn bản về kết quả đánh giá hồ sơ đề xuất về kỹ thuật đến các nhà thầu tham dự thầu. Trong văn bản thông báo phải nêu rõ tên nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, lý do các nhà thầu không đáp ứng về kỹ thuật, thời gian, địa điểm mở hồ sơ đề xuất về tài chính. Các nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật có thể cử đại diện tham dự lễ mở hồ sơ đề xuất về tài chính.
Như vậy, theo quy định của pháp, việc thực hiện đánh giá hồ sơ dự thầu cần phải được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong hoạt động đấu thầu.
3. Có thể kéo dài thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu trong trường hợp cần thiết hay không?
Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 12 Luật đấu thầu 2013 có quy định "thời gian đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển tối đa là 20 ngày, hồ sơ đề xuất tối đa là 30 ngày, hồ sơ dự thầu tối đa là 45 ngày đối với đấu thầu trong nước, kể từ ngày có thời điểm đóng thầu đến ngày bên mời thầu trình chủ đầu tư phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Thời gian đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển tối đa là 30 ngày, hồ sơ đề xuất tối đa là 40 ngày, hồ sơ dự thầu tối đa là 60 ngày đối với đấu thầu quốc tế, kể từ ngày có thời điểm đóng thầu đến ngày bên mời thầu trình chủ đầu tư phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Trường hợp cần thiết, có thể kéo dài thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất nhưng không quá 20 ngày và phải bảo đảm tiến độ thực hiện dự án"
Từ đây có thể thấy, việc đánh giá hồ sơ dự thầu được pháp luật quy định tối đa là 45 ngày trong trường hợp đấu thầu trong nước. Thời hạn 45 ngày được tính kể từ ngày có thời điểm đóng thầu đến ngày bên mời thầu trình chủ đầu tư phê duyệt kết quả lựa chọn thầu. Nếu trong trường hợp đấu thầu quốc tế, thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu là 60 ngày kể từ ngày có thời điểm đóng dấu đến ngày bên mời thầu trình chủ đầu tư phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu.
Và pháp luật cũng quy định rõ trong trường hợp cần thiết, thời hạn đánh giá hồ sơ dự thầu có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày và phải bảo đảm tiến độ thực hiện dự án.
Trên đây là một số vấn đề có liên quan đến nội dung gia hạn thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu. Để có thể hiểu rõ hơn, tham khảo: Thời gian lựa chọn nhà thầu theo quy định mới nhất năm 2023.
Mọi thắc mắc về một số vấn đề về nội dung pháp lý có liên quan đến vấn đề có thể kéo dài thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu được hay không, liên hệ tổng đài 19006162 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp chi tiết.
Trân trọng!