Thưa luật sư, Tôi có đến công ty đánh sóc đĩa cùng hơn 10 công nhân khác, bất ngờ chúng tôi bị công an huyện A bắt về trụ sở xử lý. Tại đây công an huyện A đã đánh đập chúng tôi lấy lời khai và kết án chúng tôi phải có người nhà đến nộp phạt là 20 triệu mới cho về.

Khi người nhà tôi đến nộp thì nộp tiền nhưng không có giấy tờ gì. Vậy luật sư cho tôi hỏi: Công an huyện có quyền đánh chúng tôi không, có quyền xử phạt hành chính chúng tôi không, việc làm của công an xã vậy là đúng hay sai ở đâu không ?

Chân thành cảm ơn luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Hình sự công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Bộ luật tố tụng hình sự 2015

2. Nội dung phân tích:

2.1 Yếu tố cấu thành tội đánh bạc là như thế nào?

Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017. Các yếu tố cấu thành của tội danh này như sau:

Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, chỉ cần đến một độ tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này. Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này vì đây là tội phạm do cố ý và không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Nếu số tiền hoặc tài sản dùng để đánh bạc có giá trị dưới hai hai triệu đồng thì người có hành vi đánh bạc phải là người đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới là chủ thể của tội phạm này.

Khách thể của tội phạm: Cũng như đối với tội hành nghề mê tín, dị đoan, tội đánh bạc là tội xâm phạm đến trật tự công cộng mà trực tiếp là xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội, vì tội đánh bạc cũng là một tệ nạn của xã hội.

Mặt khách quan của tội phạm : Hành vi khách quan: Người phạm tội thực hiện hành vi đánh bạc bằng nhiều hình thức khác nhau. Nếu trước đây đánh bạc chủ yếu là bằng hình thức tổ tôm, xóc đĩa, bài tây thì hiện nay có rất nhiều hình thức đánh bạc như: chơi số đề, cá độ bóng đá, chọi gà, cá độ đua ngựa, đua xe...thủ đoạn phạm tội cũng rất tinh vi.

Theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “Đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

Hậu quả: Hậu quả của hành vi đánh bạc không phải là dấu hiệu bắt buộc và cũng không phải là yếu tố định khung hình phạt, mặc dù hành vi đánh bạc có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội như: do đánh bạc mà tan cửa nát nhà, do đánh bạc mà dẫn đến các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp giật, cướp, cưỡng đoạt , cố ý gây thương tích, giết người, gây rối trật tự công cộng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cho vay lãi nặng...Nhà làm luật không quy định hậu quả là yếu tố định tội hoặc yếu tố định khung hình phạt không phải vì không thấy trước được hậu quả do hành vi đánh bạc gây ra hầu hết đã cấu thành tội phạm độc lập và tội phạm đó bao giờ cũng nguy hiểm hơn tội đánh bạc. Do đó, nều hành vi đánh bạc mà dẫn đến những hành vi phạm tội khác thì người phạm tội còn bị truy cứu về các tội phạm tương ứng.

Các dấu hiệu khách quan khác: Đối với tội phạm này nhà làm luật quy định giá trị tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Nếu hành vi đánh bạc, mà giá trị tiền hay hiện vật dùng vào việc đánh bạc có giá trị được xác định dưới hai triệu đồng mà người phạm tội chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sựhoặc tuy đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích thì chưa bị coi là phạm tội đánh bạc.

Theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật hình sự, tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc bao gồm: - Tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc thu giữ được thực hiện tiếp tại chiếu bạc; - Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà còn căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc; - Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc.

Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc.

Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa... thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa...(để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa... trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đáng bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.

Việc xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa...như sau:

- Đối với người chơi đề, cá độ: Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược, cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ. Trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ.

- Đối với chủ đề, chủ cá độ: Trường hợp có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là toàn bộ số tiền thực tế mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ và số tiền mà chủ đề, chủ cá độ phải bỏ ra để trả cho người trúng (có thể là một hoặc nhiều người).

Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện hành vi đánh bạc là do cố ý, tức là khi tham gia đánh bạc người phạm tội biết rõ hành vi của mình là trái phép nhưng vẫn thực hiện. Tính trái phép (trái pháp luật) của hành vi đánh bạc được nhà làm luật bổ sung vào cấu thành mà Điều 248 cũ chưa quy định. Việc xác định người phạm tội có nhận thức được hành vi đánh bạc của mình trái phép hay không không khó. Tuy nhiên, có một số trường hợp người chơi tưởng là được phép nhưng thực tế lại là trái phép. Ví dụ: Trong khu vui chơi, giải trí, hội chợ, triển lãm... có tổ chức một số trò chơi may rủi, người chơi tưởng trò chơi đó là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra tổ chức, nhưng thực tế là do một hoặc một số người lợi dụng đứng ra tổ chức để thu tiền. Nếu gặp trường hợp này, người tham gia trò chơi sẽ không bị coi là đánh bạc trái phép

=> Như vậy, nếu đủ các yếu tố cấu thành như đã nêu ở trên đây thì bạn sẽ bị khởi tố vụ án hình sự về tội đánh bạc.

2.2 Lấy lời khai trong thời hạn tạm giữ, tạm giam diễn ra như thế nào?

Như bạn có để cập trên đây thì công an huyện đã đánh đập bạn để lấy lời khai và kết án bạn và yêu cầu phải có người nhà đến nộp phạt là 20 triệu mới cho về. Hành vi này hoàn toàn trái với quy định của Pháp luật hiện hành. Cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền: Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ; Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân; Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu; Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự; Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý; Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự; Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam; Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật; Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật; Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

Đồng thời, trong quá trình lấy lời khai phải khách quan, hay nói cách khác việc công an huyện đánh đập để lấy lời khai là không đúng với quy định của Pháp luật.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Hình sự.