Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Kính gửi: Công ty Luật Minh Khuê!

Tôi và anh trai tôi đang có mảnh đất 1.250m2 (trong đó có 100m2 đất ở), bìa đỏ tên bố tôi (nhưng bố tôi đã chết năm 2005, mẹ tôi chết năm 2017) chúng tôi chưa làm thừa kế di sản. Hiện tại anh trai, chị dâu, cháu đang sống trên mảnh đất đó, nhưng không có hộ khẩu trên mảnh đất ở đó. Nay nhà nước chuẩn bị thu hồi đất, liệu tôi và anh trai tôi có được cắm đất ở khu tái định cư không (tôi không sống, không có hộ khẩu ở trên mảnh đất đó và tôi cũng không có bất cứ mảnh đất nào).

Xin văn phòng Luật tư vấn giúp tôi như nào để cả tôi và anh tôi đều được cắm đất ở khu tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của gia đình chúng tôi.

Xin chân thành cảm ơn!

TRẢ LỜI:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Bộ luật dân sự 2015;

- Luật đất đai 2013;

- Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai;

- Nghị định 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;

- Quyết định 14/2020/QĐ-UBND quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất.

Trong trường hợp này, Qúy khách cung cấp thông tin Nhà nước chuẩn bị công tác tiến hành thu hồi đất của gia đình Qúy khách. Luật Minh Khuê hiểu rằng thu hồi đất trong trường hợp này thuộc trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được quy định tại Điều 62 Luật đất đai 2013.

Điều 75 Luật đất đai 2013 quy định về điều kiện bồi thường về đất như sau:

"Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

2. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

4. Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường, cụ thể là những điều kiện sau:

- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm;

- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ)

Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định mà chưa được cấp, trừ trường hợp sau là không cần đáp ứng điều kiện có sổ đỏ:

+ Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này, theo thông tin Qúy khách cung cấp, diện tích đất do bố mẹ Qúy khách để lại đã được cấp sổ đỏ đứng tên bố Qúy khách, không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm. Do đó, khi nhà Nhà nước thu hồi đất thì Qúy khách và anh trai được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi.

Vấn đề cần làm rõ tiếp theo là liệu rằng Qúy khách và anh trai Qúy khách có được xét, bố trí tái định cư không?

Khoản 2 Điều 86 Luật đất đai 2013 quy định:

Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.

Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư.

Đồng thời, Điều 18 Quyết định 14/2020/QĐ-UBND quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có nội dung cụ thể như sau:

“Điều 18. Bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở

Thực hiện theo quy định tại Điều 86 Luật Đất đai năm 2013, Điều 27 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP.

1. Nguyên tắc bố trí tái định cư:

Việc bố trí tái định cư được ưu tiên xem xét cho các trường hợp có đất ở thu hồi quy định tại khoản 1 Điều 4 của Quy định này.

a) Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở đã được bồi thường bằng đất ở thì không được xem xét bố trí giao đất tái định cư;

b) Chỉ xem xét bố trí tái định cư cho các trường hợp bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở.

2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở đủ điều kiện bố trí tái định cư theo quy định mà tự lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản tiền, mức hỗ trợ bằng diện tích suất tái định cư tối thiểu nhân (x) 50% giá đất ở được bồi thường của hộ gia đình.

Trường hợp đủ điều kiện xét thêm lô như trường hợp bố trí tái định cư tại khu tái định cư tập trung, mức hỗ trợ lô tiếp theo bằng diện tích suất tái định cư tối thiểu nhân (x) 30% giá đất ở được bồi thường của hộ gia đình.

3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở nhưng không đủ điều kiện để cấp tái định cư, UBND cấp huyện căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương đề xuất chính sách hỗ trợ khác gửi các cơ quan liên quan để báo cáo UBND tỉnh cho ý kiến trước khi phê duyệt.”

Theo quy định trên, không phải trường hợp nào cũng được bố trí suất tái định cư. Điểm b Khoản 1 Điều luật trên quy định Chỉ xem xét bố trí tái định cư cho các trường hợp bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Do đó, nếu hiện tại gia đình anh trai Qúy khách đang sống trên mảnh đất đó, nếu nhà nước thu hồi đất và dẫn đến phải di chuyển chỗ ở thì anh trai Qúy khách sẽ được bố trí tái định cư. Qúy khách không trực tiếp sinh sống trên mảnh đất, trong trưởng hợp thu hồi đất Qúy khách không được xem xét bố trí tái định cư theo quy định trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn về pháp luật đất đai”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê