- 1. Hồ sơ đề nghị Bộ Tài chính thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ trái phiếu được chính phủ bão lãnh khi đến hạn
- 2. Trách nhiệm của ngân hàng chính sách nếu không thực hiện nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi trái phiếu được chính phủ bảo lãnh khi đến hạn
- 3. Phương án trả nợ thay đối với trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh
- 4. Trình tự đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán của người bảo lãnh đối với nợ trái phiếu đến hạn của ngân hàng chính sách
1. Hồ sơ đề nghị Bộ Tài chính thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ trái phiếu được chính phủ bão lãnh khi đến hạn
Hồ sơ đề nghị gửi văn bản đến Bộ Tài chính để thực hiện việc thanh toán nợ trái phiếu đến hạn, theo quy định tại Điều 54, Khoản 2 của Nghị định 91/2018/NĐ-CP, cần bao gồm các thông tin sau:
+ Mã trái phiếu: Đây là một chuỗi ký tự hoặc số định danh duy nhất cho mỗi loại trái phiếu hoặc tài sản trái phiếu cụ thể. Mã trái phiếu thường được sử dụng để xác định và theo dõi các trái phiếu cụ thể trong thị trường tài chính. Mã trái phiếu thường bao gồm một loạt ký tự hoặc số và có thể được sử dụng để tra cứu thông tin liên quan đến trái phiếu trong hệ thống giao dịch tài chính và báo cáo tài chính.
+ Số tiền gốc và lãi đã đến hạn: là số tiền mà người nợ phải trả cho những khoản nợ trái phiếu đã đến ngày thanh toán dự kiến. Số tiền gốc là số tiền ban đầu mà người nợ đã vay mượn thông qua việc phát hành trái phiếu, và lãi là khoản tiền phải trả thêm dựa trên tỷ lệ lãi suất được ghi trong hợp đồng trái phiếu. Thông tin này quan trọng để xác định tổng số tiền mà người nợ phải trả khi trả nợ trái phiếu đến hạn. Số tiền gốc và lãi đã đến hạn thường được tính dựa trên thời gian và lãi suất cụ thể đã được thỏa thuận trong hợp đồng trái phiếu. Nếu người nợ không trả đủ số tiền gốc và lãi đã đến hạn, họ có thể phải đối mặt với việc chậm trễ thanh toán, phạt, hoặc các hậu quả khác theo quy định của hợp đồng và pháp luật.
+ Kỳ hạn thanh toán của trái phiếu: là thời gian cụ thể mà người phát hành trái phiếu cam kết trả lại số tiền gốc và lãi cho các nhà đầu tư hoặc chủ sở hữu trái phiếu. Kỳ hạn thanh toán được xác định trong hợp đồng trái phiếu và có thể biểu thị cho một loạt thời gian khác nhau, từ vài tháng đến nhiều năm. Khi trái phiếu đến ngày thanh toán theo kỳ hạn, người phát hành trái phiếu phải trả số tiền gốc và lãi đã đến hạn cho những người nắm giữ trái phiếu theo tỷ lệ và thời gian được quy định trong hợp đồng. Kỳ hạn thanh toán thường quan trọng để đánh giá tính thanh khoản và khả năng thanh toán của trái phiếu, và nó có thể khác nhau tùy thuộc vào loại trái phiếu và điều kiện của thị trường tài chính.
+ Thông tin về tình hình tài chính của đối tượng được bảo lãnh. Đây là một phần quan trọng trong văn bản đề nghị Bộ Tài chính thực hiện nghĩa vụ thanh toán trái phiếu. Điều này đề cập đến tình hình tài chính của bên hoặc đối tượng mà trái phiếu được bảo lãnh dựa trên. Thông tin này cung cấp cái nhìn về khả năng của đối tượng để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán trái phiếu hoặc các khả năng tài chính trong tương lai.
+ Giải trình lý do đề nghị Bộ Tài chính thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Đây là một phần quan trọng để cung cấp lý do tại sao đối tượng đang yêu cầu Bộ Tài chính đảm bảo nghĩa vụ thanh toán trái phiếu thay mặt.
+ Đề xuất thời hạn và nguồn thanh toán mà Bộ Tài chính sẽ sử dụng để trả nợ trái phiếu thay mặt.
+ Báo cáo tài chính của đối tượng được bảo lãnh cho năm thực hiện và hai năm liền kề trước đó.
Nội dung trên sẽ giúp đảm bảo rằng đề nghị được đầy đủ và đáng tin cậy khi chuyển giao cho Bộ Tài chính để thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ trái phiếu đến hạn.
2. Trách nhiệm của ngân hàng chính sách nếu không thực hiện nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi trái phiếu được chính phủ bảo lãnh khi đến hạn
Trách nhiệm của Ngân hàng chính sách, theo quy định tại Điều 54, Khoản 1 của Nghị định 91/2018/NĐ-CP, được mô tả như sau: Trong trường hợp Ngân hàng chính sách không thể thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi của trái phiếu khi chúng đến hạn, Ngân hàng chính sách phải chịu trách nhiệm báo cáo cho Bộ Tài chính trước 03 tháng so với ngày đến hạn trả nợ. Báo cáo này sẽ cung cấp thông tin về tình hình thực tế và đề xuất các biện pháp thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong phạm vi giá trị của trái phiếu đã được Chính phủ bảo lãnh cấp.
Như vậy, trong tình huống không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi của trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh khi chúng đến hạn, Ngân hàng chính sách có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tài chính trước 03 tháng so với ngày đến hạn trả nợ về tình hình thực tế. Đồng thời, Ngân hàng chính sách cũng phải đề xuất các phương án cụ thể để thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong giới hạn giá trị trái phiếu được Chính phủ đã bảo lãnh.
3. Phương án trả nợ thay đối với trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh
Phương án trả nợ thay đối với trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, theo quy định tại Điều 54, Khoản 3 của Nghị định 91/2018/NĐ-CP, được mô tả như sau: Dựa trên đề xuất của Ngân hàng chính sách, Bộ Tài chính sẽ xem xét và báo cáo cho Thủ tướng Chính phủ về phương án trả nợ thay đối với trái phiếu được Chính phủ đã bảo lãnh, bao gồm các chi tiết sau:
+ Điều kiện của việc trả nợ thay thế: Trả nợ thay thế sẽ diễn ra khi trái phiếu gốc đã đến ngày hết hạn và cần thanh toán. Điều kiện cần chỉ định giá trị cụ thể mà Bộ Tài chính hoặc nguồn tài chính thay thế sẽ thanh toán cho người sở hữu trái phiếu. Cần xác định nguồn tài chính mà Bộ Tài chính hoặc đơn vị thay thế sẽ sử dụng để thanh toán nợ thay thế. Có thể có các điều kiện bổ sung khác, ví dụ, điều kiện về việc chấp nhận trái phiếu thay thế hoặc việc thực hiện thanh toán trong một khoảng thời gian cụ thể sau khi kế hoạch được phê duyệt.
+ Giá trị và số lần trả nợ thay thế: Đây là số tiền mà Bộ Tài chính hoặc nguồn tài chính thay thế cam kết trả cho người sở hữu trái phiếu khi trái phiếu gốc đến ngày hết hạn. Giá trị này cần phải được xác định cụ thể và rõ ràng trong phương án, đảm bảo tính minh bạch và chính xác. Điều này thường bao gồm cả số tiền gốc và lãi đã đến hạn.
+ Nguồn tài chính để thực hiện trả nợ thay đối. Ngân sách nhà nước có thể cung cấp nguồn tài chính để thực hiện trả nợ thay thế. Điều này có thể dựa trên quyết định của chính phủ hoặc cơ quan tài chính tương ứng. Ngân hàng chính sách có thể sử dụng tài chính từ nguồn quỹ của họ để trả nợ thay thế trái phiếu khi đến hạn. Đôi khi, đơn vị thực hiện trả nợ thay thế bằng cách huy động vốn từ thị trường tài chính thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc hợp đồng tài chính khác.
4. Trình tự đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán của người bảo lãnh đối với nợ trái phiếu đến hạn của ngân hàng chính sách
Căn cứ theo quy định tại Nghị định 91/2018/NĐ-CP thì trình tự thực hiện nghĩa vụ thanh toán của người bảo lãnh đối với nợ trái phiếu đến hạn của ngân hàng chính sách bao gồm những nội dung sau đây:
Bước 1: Ngân hàng chính sách gửi hồ sơ đề nghị Bộ Tài chính thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ trái phiếu đến hạn.
Bước 2: Dựa trên đề xuất của ngân hàng chính sách, Bộ Tài chính xem xét và báo cáo cho Thủ tướng Chính phủ về phương án trả nợ thay đối với trái phiếu được Chính phủ đã bảo lãnh.
Bước 3: Thủ tướng Chính phủ xem xét và phê duyệt phương án trả nợ thay đối với trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh.
Bước 4: Sau khi được phê duyệt bởi Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính thực hiện thanh toán nợ cho người sở hữu trái phiếu.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Quy định của pháp luật về hồ sơ đề nghị cấp bảo lãnh chính phủ đối với khoản phát hành trái phiếu. Nếu có bất cứ thắc mắc nào về vấn đề này hay gặp phải bất kì vấn đề pháp lý nào khác, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi. Trân trọng!