1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Xin chào Luật sư! Trước hết tôi xin trình bày về Đơn tố cáo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp và Phát triển X:
Kính gửi: P. CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN HUYỆN X, TỈNH Y
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN X
Họ và tên tôi: N.V.A Sinh ngày:...1972
Chứng minh nhân dân số:...
Hộ khẩu thường trú:... Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y
Chỗ ở hiện tại: ...Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y
Hiện đang là Phó giám đốc Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp và Phát triển X
Địa chỉ văn phòng Công ty: ... Phố M, Phường N, Quận O, TP P.
Tôi làm đơn này tố cáo và đề nghị Quý cơ quan tiến hành điều tra, khởi tố hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật của: Anh: Nguyễn Văn A Sinh ngày: ......1983.
Hộ khẩu thường trú: Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y
Chỗ ở hiện tại: Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y
Vì anh Nguyễn Văn A đã có hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của Công ty tôi với số tiền là 30.100.000 đồng Sự việc cụ thể như sau:
Ngày 15/07/2015 Công ty tôi có chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của anh. Nguyễn Văn A số tiền là 65.000.000 đồng để chi phí các khoản trong công việc của công ty như sau.
- Thanh toán lương công nhân của Công ty là anh B số tiền là 4.400.000 đồng.
- Thanh toán lương công nhân của Công ty là anh A số tiền là 5.500.000 đồng.
- Chi phí tiền mua vật tư cột sắt để trồng tại TT Viettel huyện K là 5.000.000 đồng.
- Số tiền còn lại là 50.100.000 đồng Công ty chỉ đạo anh A chi phí cho các việc thuộc chi phí khác của Công ty.
- Nhưng anh A chỉ sử dụng số tiền trên chi những công việc cụ thể như sau.
- Thanh toán lương công nhân của Công ty là anh B số tiền là 4.400.000 đồng.
- Thanh toán lương công nhân của Công ty là anh B số tiền là 5.500.000 đồng.
- Công ty đã xác nhận anh A đã chi số tiền 25.000.000 đồng vào công việc của Công ty là đúng.
- Số tiền còn lại là 30.100.000 đồng anh A đã không chi phí vào công việc của Công ty giao mà chiếm đoạt số tiền đó và rời khỏi Công ty, tắt máy điện thoại Công ty liên lạc với anh Nguyễn Văn A nhiều lần nhưng không thấy trả lời và tắt máy, Công ty đã cử anh B lần thứ nhất sang tận nơi ở hiện tại của anh A tại Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y ngày 26/07/2015 nhưng không gặp anh A ở nhà.
- Vào ngày 02/08/2015 Công ty có làm thông báo lần thứ nhất tới anh A và chuyển qua địa chỉ Email cho anh A về việc yêu cầu anh A tới Văn phòng Công ty để làm thủ tục bàn giao công việc còn tồn tại liên quan đến hồ sơ và các công việc còn tồn tại do anh A thi công và quản lý trong thời gian làm việc tại Công ty nhưng anh A không chấp hành mà còn dùng thủ đoạn liên lạc với Đối tác của Công ty nói những lời không tốt mang tính chất phá hại và gây mất uy tín giữa Công ty và Đối tác của Công ty.
- Lần 2 vào ngày 06/08/2015 Công ty lại cử anh B tới nhà anh A để động viên và đề nghị anh A lên tới văn phòng để làm việc cụ thể với Công ty dù làm việc nữa hay không cũng phải bàn giao cụ thể công việc cho người khác của Công ty để tiếp quản nhưng anh A đã trả lời dứt khoát với Anh B là không bao giờ sang làm việc mà còn có thái độ hăm dọa sẽ phá công ty bằng nhiều hình thức.
- Ngày 06/08/2015 Công ty không thấy anh A tới Công ty làm việc theo thông báo lần thứ nhất, Công ty làm tiếp thông báo lần 2 cho anh Nguyễn Văn A gửi về Công an Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y yêu cầu anh A về Văn Phòng Công ty làm việc trước ngày 10/08/2015 nhưng vẫn không thấy anh A tới làm việc theo yêu cầu của Công ty.
- Ngày 10/08/năm 2015 Công ty làm tiếp thông báo lần 3 cho anh A gửi về Công an Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y yêu cầu anh A về Văn Phòng Công ty làm việc trước ngày 20/08/2015 nhưng vẫn không thấy anh Nguyễn Văn A tới Văn phòng Công ty làm việc theo yêu cầu.
- Từ những sự việc trên, có thể khẳng định anh Nguyễn Văn A đã dùng thủ đoạn gian dối khi tạo cho tôi và Công ty sự tin tưởng nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của Công ty tôi.
- Qua thủ đoạn và hành vi như trên, anh A đã chiếm đoạt 30.100.000 nghìn đồng của Công ty tôi.
- Tôi cho rằng hành vi của anh A có dấu hiệu phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - qui định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Theo đó, người nào có “thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng, hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” thì phạm tội này.
- Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nay tôi viết đơn này tố cáo anh A. Kính đề nghị Quí cơ quan giải quyết cho những yêu cầu sau đây:
- Xác minh và khởi tố vụ án hình sự để điều tra, đưa ra truy tố, xét xử anh A về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Buộc anh A phải trả lại tiền cho Công ty tôi.
Tôi cam kết toàn bộ nội dung đã trình bày trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều trình bày trên. Kính mong được xem xét và giải quyết. Xin chân thành cảm ơn!

Tôi xin hỏi tình huống nêu trên việc yêu cầu trong Đơn tố cáo của tôi có đúng không ? Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, muốn xác định hành vi của anh Nguyễn Văn A có cấu thành tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 139 hay không, cần xem xét những dấu hiệu định tội được nêu tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Theo đó, để định anh A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với hay không cần chứng minh được A có sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của công ty.

- Căn cứ vào dấu hiệu mục đích: anh A đã có mục đích chiếm đoạt số tiền được công ty giao cho để sử dụng vào mục đích chi trả một số chi phí của công ty, cụ thể: Sau khi nhận được số tiền Ngày 15/07/2015 Công ty tôi có chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của Anh. A số tiền là 65.000.000 đồng để chi phí các khoản trong công việc của công ty như đã nêu trên. Anh A chỉ thanh toán lương cho cho Anh B số tiền là 4.400.000 đồng; thanh toán tiền lương cho Anh A số tiền là 5.500.000 và sử dụng 25.000.000 đồng chi phí cho các việc thuộc chi phí khác của Công ty. Số tiền còn là 30.100.000 nghìn đồng Anh A không dùng để chi trả chi phí khác cho công ty nhưng cũng không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả lại cho công ty mà có hành vi rởi khỏi công ty.

- Căn cứ vào dấu hiệu hành vi: Để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản, anh A đã sử dụng thủ đoạn gian dối đối với công ty: Sau khi rời khỏi công ty, Công ty đã nhiều lần liên lạc với anh A nhưng không thấy trả lời và tắt máy; thậm chí có hành vi dùng thủ đoạn liên lạc với Đối tác của Công ty nói những lời không tốt mang tính chất phá hại và gây mất uy tín giữa Công ty và Đối tác của Công ty; hăm dọa sẽ phá công ty bằng nhiều hình thức khi công ty cử người đến nhà anh A để thông báo; có hành vi chống đối khi công ty gửi yêu cầu thông qua cơ quan chức năng, yêu cầu Anh A trở lại làm việc.

- Căn cứ vào số tiền chiếm đoạt: Số tiền Anh A chiếm đoạt của Công ty là 30.100.000 nghìn đồng, thỏa mãn yêu cầu cấu thành tội phạm.

Do đó, xét những dấu hiệu kể trên, hành vi của Anh A đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xét thấy, anh A là người có chức vụ, quyền hạn. Có nghĩa vụ bảo quản, sử dụng số tiền của công ty giao cho để thực hiện nhiệm vụ mà công ty giao cho. Tuy nhiên anh A đã thực hiện đúng nghĩa vụ được giao, mà lợi dụng sự tín nhiệm của doanh nghiệp để chiếm đoạt số tiền được giao. Do đó, áp dụng tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 139 Bộ luật, Theo đó, anh A sẽ phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn từ hai đến bảy năm theo quy định tại khoản 2 Điều 139, đồng thời có thể áp dụng hình phạt bổ sung: phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm đối với anh A theo quy định tại khoản 5 Điều này.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn 1900.6162

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

2. Lừa đảo qua mạng xã hội có bị xử phạt ?

Xin LS tư vấn giúp tôi vụ việc như sau: Tối nay ( 3/9/2015) lúc 6h chiều tôi nhận được tin nhắn qua messenger từ facebook của 1 người bạn thân ở Mỹ (messenger này tôi thường nhắn tin cùng người bạn nhiều lần). Ngay cả sáng nay tôi vẫn còn xem hình ảnh của bạn trên fb. Nội dung bạn nhờ tôi mua mấy cái card mobifone rồi gởi seri và mã thẻ cho bạn. Tôi tuyệt đối không nghi ngờ nên đã làm theo, kết quả là tôi bị lừa 3 triệu đồng.
Lúc sau tôi điện thoại trực tiếp cho bạn tôi thì bạn tôi nói rằng tài khoản của bạn đã bị hack từ đêm qua. Trường hợp bị lừa kiểu này thì phải làm thế nào? Cơ quan nào giải quyết để bắt được bọn này không? (Tôi đã thấy CA đã bắt mấy tên " cháu của chú Viettel rồi) ?
Xin tư vấn. Cảm ơn

>> Luật sư tư vấn uật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 có các quy định sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, người này đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin không đúng sự thật để nhằm chiếm đoạt tiền của bạn qua mạng xã hội, và số tiền chiếm đoạt được lên tới 3 triệu đồng; do vậy, người này đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình sự.
Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định về Tố giác và tin báo về tội phạm:
"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Do vậy, bạn có thể làm đơn đến cơ quan công an nơi bạn cư trú trình bày sự việc đã xảy ra để được xem xét giải quyết. Bạn cần cung cấp đầy đủ các thông tin cho bên cơ quan tiếp nhận tin báo như: thông tin về người lừa đảo bạn, bằng chứng tiến hành giao dịch...Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh để làm rõ có hay không dấu hiệu của hành vi phạm tội trong trường hợp này. Nếu có dấu hiệu phạm tội họ sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Hành vi như thế nào sẽ cấu thành tội lừa đảo và hình phạt tội lừa đảo quy định như thế nào ? Cảm ơn!

Trả lời:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưnggây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đếnhai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Về cấu thành tội phạm.

Theo đó: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

Về mặt khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

Khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác.

Chủ thể là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòngđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Lừa đảo chạy việc có bị khởi tố về hình sự không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi cho vay tiền nhưng đến nay đã hơn 2 năm vẫn chưa thấy gì. Hỏi đến người ta. Thì nhận được câu trả lời là phải chờ. Sau nhiều lần như vậy gia đình tôi có tới nhà và đề nghị rút lại số tiền (450 triệu đồng) thì người kia làm đủ mọi cách để kéo dài thời gian. Xin luật sư tư vấn. Nếu kiện thì thủ tục như thế nào ạ. Mong được hồi đáp sớm từ luật sư. Xin cảm ơn!

Trả lời:

Trường hợp này, hành vi này không cấu thành tội phạm bởi người này chỉ có hành vi kéo dài thời gian chứ không hề có dấu hiệu của sự trốn tránh nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy định tịa Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2009).Do đó, bạn không có quyền khởi kiện hành vi này.

Thưa luật sư, Mẹ e bị truy tố và đang chấp hành án phạt tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vậy e xin hỏi luật sư ngôi nhà gia đình em đang ở có bị phát mãi không. Ngôi nhà không thế chấp thuộc tên sỡ hữu của bố e có trước khi cưới mẹ e.

Bạn cần xem xét trương hợp này căn nhà là tài sản chung của bố mẹ bạn nhưng chỉ đứng tên bố bạn hay là tài sản riêng của bố bạn. Theo đó, nếu bố bạn chứng minh được tài sản riêng của mình thì tài sản này sẽ không bị phát mãi trong quá trình thi hành án của mẹ bạn.

Thưa luật sư! Em yêu một cán bộ công an nhưng bị gia đình ngăn cản, khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2016 người đàn ông này lợi dụng tình cảm của em để vay mượn tiền với lý do trả nợ ngân hàng..., nhưng toàn bộ số tiền anh ta mượn đều được chuyển đến tài khoản của người khác với lý do anh ta khoomg có thẻ ATM để rút ngay được. Tổng số tiền là hơn 50tr đồng. Em đã đòi nhưng người này khất lần, hứa hẹn nhiều lần nhưng chưa trả. Luật sư cho em hỏi, với tình tiết sự việc như trên em có thể kiện anh ta với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? hình phạt cụ thể trong trường hợp này là gì? anh ta có bị đuổi khỏi ngành công an hay không?

Trường hợp này bạn không thể khởi kiện anh ta về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được vì hành vi này không cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 39 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009. Để bao vệ quyền lợi cho mình, bạn có thể thực hiện khởi kiện dân sự về kiện đòi tài sản.

Thưa Luật sư, bạn em sau khi tốt nghiệp đại học, qua lời hứa hẹn của bà C là sẽ xin cho bạn em vào làm Văn thư - Lưu trữ tại Ủy ban nhân dân Quận và được ký hợp đồng làm việc dài hạn theo ngân sách nhà nước, bạn em phải đưa 60.000.000 đồng để xin vào công việc trên. Sau khi đưa hồ sơ xin việc, bà C yêu cầu bạn em đặt tiền cọc xin việc là 10.000.000 đồng và bà C viết cho bạn em 1 tờ giấy mượn tiền. Sau 1 tháng, bạn em nhận được điện thoại xuống nhận việc. Theo như tìm hiểu, công việc đó là do Trung tâm lưu trữ thiếu người nên hợp đồng thời vụ người lao động vào để làm việc, không tốn tiền gì để xin vì công việc đó không lâu dài. Do không đúng với thỏa thuận ban đầu nên bạn em không làm công việc đó và đòi lại tiền cọc nhưng bà C không trả. Như vậy, bà C có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ạ? Và bạn em có thể kiện bà C để được nhận lại số tiền cọc không ạ? Và khi kiện thì bạn em có bị truy tố hình sự vì dùng tiền để chạy việc không ạ? Mong Luật sư tư vấn giúp bạn em. Em cảm ơn!

Bạn có thể tố cáo người này về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Có thể tố cáo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

Thưa luật sư! Em có làm chung với 1 người bạn tên T được hơn nửa năm thì chị ấy có lên tiếng vay em 10 triệu đồng để giúp đỡ gia đình trong lúc hoạn nạn. Chị T kể với em là anh trai chị lỡ nghiện bài và hiện đang nợ xã hội đen 40 triệu lãi 1 ngày 2 triệu và gia đình không có khả năng chi trả. Hiện đang bị dọa chặt tay nên phải lẩn trốn. Không riêng em mà chị cũng kể với nhiều anh chị ở công ty giống vậy và vì tin nên e đã cho chị tú vay 10 triệu trong 4 tháng.
Nhưng cách đây 3 tháng chị T đã nghỉ công ty và nói đi xuất khẩu lao động sang Nhật và đang học ở Bình Dương. Em có liên hệ nhiều lần mà chị cứ hẹn lần lượt nhưng không trả tiền cho em. Em có vô nhà mới biết chị T lừa em. Thật sự anh của chị không có như vậy và hiện đang làm tài xế taxi thu nhập ổn định. Em muốn hỏi luật sư có thể cho em biết em có kiện được chị ấy tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Lúc cho vay em có đơn viết tay xin vay tiền của chị T và em vẫn giữ những tin nhắn em và chị nói chuyện thì có đủ chứng cứ chưa ạ. Em rất mong luật sư giúp em vì em đang gánh nợ giúp vì tiền đó em phải đi vay của người ta ?
Em cám ơn, rất mong luật sư giúp em giải quyết!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự về tố cáo lừa đảo, gọi : 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo những thông tin mà bạn cung cấp thì ngay từ ban đầu khi vay tiền của bạn chị T đã đưa ra những thông tin gian dối rằng" anh trai chị lỡ nghiện bài và hiện đang nợ xã hội đen 40 triệu lãi 1 ngày 2 triệu và gia đình không có khả năng chi trả. Hiện đang bị dọa chặt tay nên phải lẩn trốn" để bạn tin và cho chị T vay tiền. Như vậy hành vi của chị T đã có dấu hiệu gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 như sau:

"Điều 139*. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân :

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi của chị T ra cơ quan công an để có thể đòi lại quyền lợi. Bạn cần nộp kèm đơn tố cáo các tài liệu, chứng cứ kèm theo để giúp cơ quan điều tra có thể điều tra dễ dàng như: giấy tờ vay giữ hai bên, những tin nhắn qua lại giữa hai bên, người làm chứng, ...

>> Tham khảo bài viết liên quan: Mẫu đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?