1.Khái quát về giám định hàng hóa trước khi xếp hàng xuống tàu 

Hiệp định về giám định hàng hoá trước khi xếp hàng xuống tàu (viết tắt là ‘Hiệp định PSI’) công nhận sự cần thiết phải giám định chất lượng, số lượng hoặc giá cả của hàng hoá nhập khẩu của các DCs trong thời hạn và mức độ những nước này thấy phù hợp; nhận thức rằng việc thực hiện những hoạt động giám định không được tạo thêm trì hoãn không cần thiết hoặc gây đối xử không công bằng. Vì vậy, Hiệp định đã xác lập khuôn khổ quốc tế thống nhất về quyền và nghĩa vụ của cả các thành viên sử dụng công cụ này và các thành viên xuất khẩu; mong muốn làm minh bạch hoá hoạt động của cơ quan giám định hàng hoá, pháp luật và các quy định liên quan về giám định hàng hoá 2. Phạm vi điều chỉnh và định nghĩa Hiệp định điều chỉnh mọi hoạt động giám định hàng hoá được thực hiện trên lãnh thổ của các thành viên dưới hình thức kí hợp đồng hoặc uỷ quyền của chính phủ hoặc bất kì cơ quan chính phủ nào của thành viên (khoản 1 Điều 1). Hoạt động giám định hàng hoá là mọi hoạt động liên quan đến việc thẩm định số lượng, chất lượng và giá cả, kể cả tỉ giá hối đoái và các điều kiện tài chính, và/hoặc phân loại hải quan của hàng hoá xuất khẩu đến lãnh thổ thành viên sử dụng (khoản 3 Điều 1).

2.Nội dung chủ yếu 

Hiệp định Hiệp định này được các DCs áp dụng nhằm bảo hộ những lợi ích tài chính quốc gia (ví dụ: ngăn chặn thất thoát vốn và gian lận thương mại cũng như việc trốn thuế quan) và nhằm đền bù cho những thiếu hụt về cơ sở hạ tầng hành chính. Hiệp định thừa nhận rằng những nguyên tắc và nghĩa vụ của GATT sẽ được áp dụng cho những hoạt động của các cơ quan giám định hàng hoá trước khi xếp hàng do chính phủ ủy thác. Những nghĩa vụ quy định cho chính phủ thành viên giám định bao gồm nghĩa vụ không phân biệt đối xử, minh bạch, đảm bảo bí mật thông tin kinh doanh, tránh trì hoãn không có lí do chính đáng, sử dụng những hướng dẫn cụ thể để tiến hành thẩm định giá, và tránh xung đột lợi ích của các cơ quan giám định trước khi xếp hàng xuống tàu. Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng xuất khẩu đối với thành viên sử dụng hoạt động giám định hàng hoá bao gồm: Không phân biệt đối xử trong việc áp dụng pháp luật quốc gia; Nhanh chóng công bố pháp luật và những quy định về trợ giúp kĩ thuật khi được yêu cầu. Hiệp định xác lập thủ tục rà soát độc lập - do cơ quan đại diện cho cơ quan giám định và cơ quan đại diện cho nhà xuất khẩu cùng nhau thực hiện và quản lí - để giải quyết tranh chấp giữa nhà nhập khẩu và cơ quan giám định.

3. Khái quát về quy tắc xuất xứ hàng hóa 

Mục đích của Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hoá (viết tắt là ‘Hiệp định RoO’) là hướng tới sự hài hoà lâu dài những quy tắc xuất xứ hàng hoá, hơn là chỉ quan tâm tới các quy tắc xuất xứ hàng hoá nhằm mục đích trao ưu đãi thuế quan; và Hiệp định RoO nhằm đảm bảo rằng các quy tắc xuất xứ hàng hoá tự chúng không tạo ra trở ngại không cần thiết đối với thương mại; đảm bảo rằng các quy tắc xuất xứ phải được chuẩn bị và áp dụng một cách vô tư, công khai, có thể dự đoán được, nhất quán và trung lập 

Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ.

  Loại hàng hóa này được xác định có xuất xứ ASEAN theo tiêu chí "toàn bộ” (hay còn gọi là "hoàn toàn”). Tiêu chí "toàn bộ” trong quy tắc xuất xứ của cá quốc gia và các liên kết quốc tế, thông thường đều được xác định ở "mức độ tuyệt đối”. Tức là hàng hóa phải hoàn toàn được sinh trưởng và thu hoạch ở mức xuất xứ hoặc được gia công hoàn toàn bằng các nguyên liệu của nước xuất xứ. Một thành phần nhỏ nhất của nguyên liệu hoặc bộ phận, phụ tùng không có xuất xứ của nước xuất khẩu sẽ làm cho sản phẩm hoàn thành liên quan mất đi tính chất "xuất xứ toàn bộ”.

            Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ theo quy định của ASEAN có thể phân thành các nhóm sau:

Nhóm 1: Hàng hóa là động thực vật sinh trưởng và được thu hoạch ở quốc gia thành viên:

-          Thực vật và các sản phảm từ thực vật được trồng và thu hoạch ở quốc gia thành viên xuất khẩu;

-          Động vật sinh trưởng và được nuôi dưỡng taiju quốc gia thành viên xuất khẩu;

-          Hàng hóa thu được từ săn bắn, bãy, câu, đánh bắt… tại quốc gia thành viên xuất khẩu.

Ví dụ: Vải thiều Lục Ngạn của Việt Nam  xuất đi Malaixia.

Nhóm 2: Nhóm các các hàng hóa phi sinh vật được khai thác ở quốc gia thành viên:

Ví dụ mặt hàng dầu thô và khí đốt khai thác trên thềm lục địa Việt Nam được coi là có xuất xứ Việt Nam theo ATIGA

-          Khoáng sản và các sản phẩm tự nhiên khác;;

-          Phế thải, phế liệu có nguồn gốc từ púa trình sản xuất của quốc gia đó;

-          Phế phẩm thu nhặt được tại quốc gia thành viên được dùng làm nguyên liệu thô.

Nhóm 3: Nhóm các sản phẩm (bao gồm cả sinh vật và vi sinh vật) được khai thác, chế biến hoặc đánh bắt từ các vùng biển bằng tàu được đăng ký và treo cở của quốc gia thành viên:

Ví dụ mặt hàng cá ngừ đại dương được tàu cá Việt Nam đánh bắt trên vung biển quốc tế xuất đi các nước Asean.

-          Được khai thác hoặc đánh bắt trong vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế của quóc gia thành viên.;

-          Được khai thác hoặc đánh bắt trên vùng biển quốc tế;

-          Được khai thác, chế biến hoặc đánh bắt tử đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ngoài lãnh hải quốc gia thành viên, nơi mà quốc gia đó có quyền khai thác.

Nhóm 4: Nhóm các sản phẩm chế tạo: là các hàng hóa được sản xuất tại quốc gia xuất khẩu, hoàn toàn bằng các nguyên liệu thuộc các nhóm trên.

Ví dụ như mặt hàng gạo Việt Nam xay xát, tẩy trắng, đóng bao của Việt Nam xuất đi Indonexia.

Như vậy, tất cả các loại hàng hoá này đều là hàng hoá có xuất xứ "100% ASEAN”. Hàng hóa từ nhóm 1 đến nhóm 3 là hàng hóa có tính chất "xuất xứ thuần túy”, còn nhóm 4 là hàng hóa được "sản xuất toàn bộ”. 

Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý hoặc không được sản xuất toàn bộ

    Hàng hoá loại này là những sản phẩm được sản xuất toàn bộ hoặc từ một phần nguyên liệu không có xuất xứ). Trong số đó, chỉ những sản phẩm được sản xuất, gia công hay chế biến đạt ở một "mức độ đầy đủ” nhất định (hay "mức độ đáng kể”) tại quốc gia xuất khẩu mới được coi là có xuất xứ của nước đó. Các tiêu chí xuất xứ hiện nay trên thế giới đối với loại hàng hoá này đều nhằm để xác định "mức độ đầy đủ” hoặc "mức độ đáng kể” đó. Theo các quy định pháp luật của ASEAN, hàng hoá thuộc loại này được coi là có xuất xứ ASEAN khi đáp ứng một trong ba tiêu chí: Tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực, tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hoá hoặc tiêu chí mặt hàng cụ thể. Các nhà xuất khẩu hàng hoá được quyền lựa chọn sử dụng một trong các tiêu chí này để xác định xuất xứ hàng hoá.

a. Tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực(Regional Value Content - RVC)

Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 ATIGA 2009, "hàng hoá được sản xuất tại quốc gia thành viên và có RVC không dưới 40% thì được coi là có xuất xứ ASEAN”. Hàm lượng giá trị ASEAN được tính theo một trong hai phương pháp sau:

  • Phương pháp trực tiếp:

 

Chi phí nguyên vật liệu ASEAN

 

+

Chi phí nhân công trực tiếp

 

+

Chi phí phân bổ trực tiếp

 

+

Chi phí khác

 

+

 

Lợi nhuận

 

x 100 %

Trị giá FOB

 

 

 

RVC=

 

 Đối với trường hợp nguyên vật liệu hoặc các công đoạn sản xuất hàng hoá liên quan đến nhiều quốc gia ASEAN thì nguyên vật liệu ASEAN được xác định như sau:

- Hàng hoá có xuất xứ từ quốc gia thành viên, được sử dụng làm nguyên liệu tại lãnh thổ của quốc gia thành viên khác để sản xuất ra sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan sẽ ra sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan sẽ được coi là có xuất xứ của quốc gia thành viên sản xuất ra sản phẩm đó

Nếu RVC của nguyên vật liệu nhỏ hơn 40%, hàm lượng giá trị ASEAN này sẽ được "cộng gộp” theo đúng tỉ lệ thực tế vào hàm lượng nội địa với điều kiện hàm lượng giá trị ASEAN này bằng hoặc lớn hơn 20%.

 

* Phương pháp gián tiếp:

 

Trị giá FOB

 

 

-

Trị giá của nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá không có xuất xứ

 

 

x 100 %

Trị giá FOB

 

 

RVC=

 

Trong đó:

- Chi phí nguyên vật liệu ASEAN là giá CIF của nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá thu được hoặc được tự sản xuất bởi nhà sản xuất trong quá trình sản xuất hàng hoá;(6)

- Trị giá nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá không có xuất xứ là :

+ Giá CIF tại thời điểm nhập khẩu của hàng hoá hoặc thời điểm nhập khẩu được chứng minh; hoặc

+ Giá xác định ban đầu trả cho hàng hoá không xác định được xuất xứ tại lãnh thổ của quốc gia thành viên nơi diễn ra hoạt động sản xuất hoặc chế biến;

- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm lương, thù lao và các khoản phúc lợi khác cho người lao động liên quan đến quá trình sản xuất;

- Chi phí phân bổ trực tiếp bao gồm (nhưng không giới hạn) các hạng mục tài sản thực liên quan tới quá trình sản xuất (bảo hiểm, chi phí thuê và thuê mua nhà máy, khấu hao nhà xưởng, sửa chữa và bảo trì, thuế, lãi cầm cố); các khoản thuê mua và trả lãi của nhà máy và thiết bị; an ninh nhà máy, bảo hiểm (nhà máy, thiết bị và nguyên vật liệu sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hoá); các chi phí tiện ích (năng lượng, điện, nước và các chi phí tiện ích khác đóng góp trực tiếp vào quá trình sản xuất hàng hoá); nghiên cứu, phát triển, thiết kế và chế tạo; khuôn rập, khuôn đúc, việc trang bị dụng cụ và khấu hao, bảo trì và sửa chữa của nhà máy và thiết bị; tiền bản quyền sáng chế (có liên quan đến máy móc hoặc quy trình sản xuất có bản quyền hoặc quyền sản xuất hàng hoá); kiểm tra và thử nghiệm nguyên vật liệu và hàng hoá, lưu trữ và sắp xếp trong nhà máy; xử lí các chất thải có thể tái chế và các yếu tố chi phí trong việc tính toán trị giá của nguyên vật liệu thô như chi phí cảng, chi phí giải phóng hàng và thuế nhập khẩu phải trả cho các thành phần chịu thuế;

- Trị giá FOB là trị giá của hàng hoá sau khi được giao qua lan can tàu, bao gồm cả chi phí vận tải đến cảng hoặc khu vực giao hàng cuối cùng tại nước xuất khẩu. Các quốc gia thành viên ASEAN chỉ

được sử dụng một trong hai phương pháp tính RVC nói trên để xác định xuất xứ của hàng hoá xuất khẩu. Tuy nhiên, các quốc gia thành viên được linh hoạt trong việc thay đổi phương pháp tính với điều kiện sự thay đổi đó phải được thông báo cho Hội đồng AFTA ít nhất là 6 tháng trước khi áp dụng phương pháp mới. Việc kiểm tra RVC của nước thành viên nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu cũng phải dựa trên phương pháp tính mà nước thành viên xuất khẩu đang áp dụng.(7) Theo quy định tại khoản 7 Điều 5 Phụ lục 1 Thông tư của Bộ công thương số21/2010/TT-BCT ngày 17/05/2010, Việt Nam áp dụng phương pháp tính gián tiếp để xác định xuất xứ của hàng hoá xuất khẩu.

4. Phạm vi điều chỉnh và định nghĩa

Quy tắc xuất xứ được định nghĩa là những luật, quy định, quyết định hành chính chung do các thành viên áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hoá, với điều kiện là quy tắc xuất xứ này không liên quan đến thoả thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan ngoài phạm vi điều chỉnh của khoản 1 Điều I GATT.

5. Những nội dung chủ yếu của Hiệp định

Hiệp định xác lập chương trình hài hoà hoá được thực hiện ngay sau khi kết thúc Vòng đàm phán U-ru-goay và được hoàn thành trong vòng 3 năm (khoản 2 Điều 9). Chương trình hài hoà hóa dựa trên cơ sở một nhóm các nguyên tắc, bao gồm quy tắc xuất xứ khách quan, dễ hiểu và có thể dự đoán được (Phần IV Hiệp định). Hiệp định xác lập những quy chế quản lí việc áp dụng quy tắc xuất xứ, được chia làm 2 giai đoạn như sau: - Điều 2 - Quy tắc trong thời gian quá độ: cho đến khi hoàn thành chương trình hài hoà hoá quy tắc xuất xứ hàng hoá quy định tại Phần IV, các thành viên phải đảm bảo rằng: (a) Khi ban hành quyết định hành chính để áp dụng chung cần phải định nghĩa rõ ràng các yêu cầu; (b) Các quy tắc xuất xứ của chúng không được sử dụng để trực tiếp hay gián tiếp theo đuổi mục tiêu chính sách đó; (c) Quy tắc xuất xứ bản thân nó không được tạo ra các tác động hạn chế, bóp méo hay làm rối loạn thương mại quốc tế; (d) Quy tắc xuất xứ áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu không được chặt chẽ hơn quy tắc xuất xứ áp dụng để xác định xem một hàng hoá có phải là hàng nội địa hay không và không được phân biệt đối xử giữa các thành viên khác, bất kể đến mối liên hệ giữa công ty mẹ, công ty con hay chi nhánh; (e) Quy tắc xuất xứ phải được quản lí nhất quán, thống nhất, vô tư và hợp lí; (f) Quy tắc xuất xứ trong đó nêu những gì không tạo nên xuất xứ hàng hoá (‘tiêu chuẩn phủ định’) cũng được phép coi như một phần của phân loại ‘tiêu chuẩn khẳng định’, hoặc trong một số trường hợp cá biệt khi việc xác định các ‘tiêu chuẩn khẳng định’ của xuất xứ là không cần thiết; (g) Các luật, quy định dưới luật, quyết định tư pháp và hành chính để áp dụng chung liên quan đến quy tắc xuất xứ sẽ được công bố; (h) Khi có thay đổi trong quy tắc xuất xứ hoặc ban hành các quy tắc xuất xứ mới, các thành viên không được áp dụng hồi tố những thay đổi này, dù các luật, quy định dưới luật có thể quy định như vậy, và không vì thế làm tổn hại đến chúng; (i) Bất kì một hành động hành chính nào liên quan đến xác định xuất xứ có thể được toà án, trọng tài hoặc toà án hành chính, độc lập với cơ quan đã ra quyết định xem xét lại một cách nhanh chóng, và có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định hành chính đó; và (j) Tất cả các thông tin bí mật, hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm thực thi các quy tắc xuất xứ phải được các cơ quan có liên quan bảo đảm tuyệt mật. - Điều 3 - Các quy tắc sau thời gian quá độ: Xét rằng mọi thành viên đều hướng tới lập ra các quy tắc xuất xứ hài hoà, sau khi có kết quả của chương trình hài hoà các quy tắc này, ngay khi triển khai kết quả của chương trình đó, các thành viên sẽ bảo đảm rằng: (a) Áp dụng quy tắc xuất xứ như nhau cho tất cả các mục đích nêu tại Điều 1; (b) Theo quy tắc xuất xứ của mình, một nước được xác định là nước xuất xứ của một hàng hoá cụ thể, nếu hàng hoá được hoàn toàn sản xuất ra ở nước đó; hoặc trong trường hợp nhiều nước cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá đó, thì nước xuất xứ hàng hoá là nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng; (c) Các nguyên tắc tương tự khác trong thời gian quá độ. Bên cạnh đó, Hiệp định cũng xác lập những thủ tục thông báo, rà soát, tư vấn và giải quyết tranh chấp trong Phần III.

Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

  Tóm lại, danh mục minh họa TRIMs không phù hợp với quy định tại các điều trên được nêu tại Phụ lục của Hiệp định như sau: - TRIMs không phù hợp với các nghĩa vụ về NT được quy định tại Điều III GATT bao gồm những biện pháp mang tính bắt buộc, hoặc được thực thi thông qua luật trong nước và các quyết định mang tính hành chính, hoặc các điều kiện mà chỉ khi tuân thủ các điều kiện này mới được hưởng một ưu đãi nào đó, mà biện pháp này quy định: (a) Doanh nghiệp phải mua hoặc sử dụng các sản phẩm có xuất xứ nội địa, hoặc từ một nguồn cung cấp nội địa, dù yêu cầu đó được xác định theo sản phẩm nhất định, theo số lượng hoặc giá trị sản phẩm hoặc theo tỉ lệ về số lượng hoặc giá trị của sản xuất nội địa; hoặc (b) Doanh nghiệp chỉ được mua hoặc sử dụng các sản phẩm nhập khẩu bị giới hạn trong một tổng số tính theo số lượng hoặc giá trị sản phẩm nội địa mà doanh nghiệp này xuất khẩu. - TRIMs không phù hợp với nghĩa vụ loại bỏ chung các biện pháp hạn chế số lượng được quy định tại khoản 1 Điều XI GATT bao gồm những biện pháp mang tính bắt buộc, hoặc được thực thi thông qua luật trong nước và các quyết định mang tính hành chính, hoặc các điều kiện mà chỉ khi tuân thủ các điều kiện này mới được hưởng một ưu đãi nào đó, và biện pháp này hạn chế: (a) Việc doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm để sử dụng hoặc liên quan đến sản xuất nội địa dưới hình thức hạn chế chung hoặc hạn chế trong một tổng thể liên quan đến số lượng hoặc giá trị sản xuất nội địa mà doanh nghiệp đó xuất khẩu; (b) Việc doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm để sử dụng hoặc liên quan đến sản xuất nội địa bằng cách hạn chế khả năng tiếp cận nguồn ngoại hối chỉ ở mức liên quan đến nguồn thu ngoại hối của doanh nghiệp này; (c) Việc doanh nghiệp xuất khẩu hoặc bán để xuất khẩu các sản phẩm, cho dù được quy định dưới hình thức sản phẩm cụ thể hay dưới hình thức số lượng, hoặc giá trị sản phẩm hoặc theo một tỉ lệ về số lượng, hoặc giá trị sản xuất nội địa của doanh nghiệp. Hiệp định TRIMs bắt buộc các bên phải thông báo những biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại không phù hợp với Hiệp định trong thời hạn 5 năm đối với các DCs và 7 năm đối với các LDCs (Điều 5). Hiệp định thành lập một Hội đồng TRIMs có nhiệm vụ kiểm soát việc thực hiện những cam kết này. Hiệp định còn quy định xem xét liệu sau này có cần bổ sung thêm vào Hiệp định những quy định về đầu tư và chính sách cạnh tranh rộng hơn nữa hay không (Điều 9).

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)