Tuy vậy, việc lấy lời khai của đương sự chỉ được tiến hành trong trường hợp đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa rõ ràng, đầy đủ. Việc lây lời khai của đương sự được quy định tại Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Toà án có thể lấy lời khai của đương sự ở tại trụ sở toà án hoặc ngoài trụ sở toà án. Thẩm phán phụ ttách việc giải quyết vụ việc dân Sự chịu ttách nhiệm lấy lời khai của đương sự. Khi lấy lời khai của đương sự, tuỳ từng trường hợp cụ thể thẩm phán có thể để đương sự tự viết bản khai hoặc trực tiếp lấy lời khai của đương sự. Việc Ịấỵ lời khai của đương sự tập trung vào những tình tiết của vụ việc dân sự mà đương sự khai chưa rõ ràng, đầy đủ.
Nếu đương sự có khả năng tự viết được bản khai thì thẩm phán để đương sự tự viết bàn khai. Trước khi đương sự viết bản khai, thẩm phán phải xác định cho họ rõ ttách nhiệm, nội dung và yêu cầu khai báo. Sau khi đương sự khai xong, thẩm phán phải kiểm tra lại nếu thấy còn thiếu hoặc có điểm chưa rõ thì yêu cầu đương sự khai bổ sung hoặc giải thích. Đương sự phải tự mình viết bản khai và kì tên của mình vào bản tự khai.
Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được hoặc cố tình khai không đùng sự thật thì thẩm phán trực tiếp lấy lời khai của họ. Khi lấy lời khai của đương sự, thẩm phán cũng xác định trách nhiệm của họ trong việc khai báo, đặt các câu hỏi để đương sự ttả lòi, nhưng các câu hỏi được đặt ra phải có tác dụng trong việc tìm hiểu sự việc. Các đương sự có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi của thẩm phán về các tình tiết của vụ việc dân sự. Đối với trường hợp đương sự được lấy lời khai là người chưa đủ 15 tuổi thì việc lấy lời khai phải được tiến hành với sự có mặt của rigười đại diện hợp pháp của đương sự đó (khoản 4 Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).
Thẩm phán hoặc thư kí toà án phải lập biên bản ghi lại lời khai của đương sự. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và kí tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền yêu cầu thẩm phán cho sửa đổi, bổ sung biên bản ghi lời khai và kí tên hoặc điểm chỉ xác nhận. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải có chữ kí của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của toà án. Nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải kí vào từng hang và đóng dấu giáp lai.
Trường hợp việc lấy lời khai của đương sự được tiến hành ngoài trụ sở của toà án thì biên bản ghi lời khai của đương sự phải có người làm chứng hoặc xác nhận của uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tồ chức nơi lập biên bản.
Người làm chứng không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc dân sự nên thường khai báo khách quan hơn đương sự. Việc lấy lời khai của người làm chứng rất có ý nghĩa cho việc làm rõ được các tình tiết liên quan đến vụ việc dân sự. Việc lấy lời khai của người làm chửng được quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc lấy lời khai của người làm chứng được thực hiện tương tự việc lấy lời khai của đương sự. Toà án lấy lời khai của người làm chúng theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết. Việc lấy lời khai của người làm chứng có thể được tiến hành ở tại trụ sở toà án hoặc ngoài trụ sở toà án. Thẩm phán phụ ttách việc giải quyết vụ việc dân sự chịu trách nhiệm lấy lợi khai của người làm chứng. Khi tiến hành lấy lời khai của người làm chứng, tuỳ trường hợp cụ thể mà toà án có thể dể họ tự khai hoặc trực tiếp lấy lời khai của họ. Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lí, trông nom người đó. Tuy vậy, trong việc lấy lời khai của người làm chứng cũng có một số điểm khác biệt nhất định so với việc lấy lời khai của đương sự thể hiện ở những điểm sau:
- Đối với những vụ việc dân sự mà có nhiều người làm chứng, toà án chỉ lấy lời khai của những người làm chứng cần thiết đối với việc giải quyết vụ việc dân sự;
- Trước khi lấy lời khai của người làm chứng, thẩm phán phải làm rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với đương sự để đánh giá đúng lời khai của họ; giải thích quyền, nghĩa vụ của người làm chứng và yêu cầu người làm chứng cam đoan về lời khai của mình;
- Thẩm phán phải lấy lời khai riêng từng người làm chứng một, không để họ tiếp xúc với nhau hoặc với đương sự ữong thời gian khai báo.
Ngoài ra, khi đặt câu hỏi trong việc lấy lời khai của người làm chứng, thẩm phán không được đặt các câu hồi có tính chất gợi ý.
Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về chứng minh, chứng cứ cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khu