1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong cho vay tín dụng ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề muốn hỏi liên quan đến “Vi phạm về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”. Nội dung chi tiết:

- Tôi là cán bộ tín dụng;

- Tháng 02/2018 tôi trình cấp một hạn mức tín dụng cho công ty 50 tỷ;

- Tài sản đảm bảo là Lô hàng trong kho có bảo vệ của bên thứ 3.

- Kí hợp đồng 3 bên về việc giữ hàng trong kho.

Công ty bảo vệ có trách nhiệm giữ hàng 24/24, chỉ được cho lấy hàng ra khi có lệnh giải chấp từ ngân hàng

- Thời hạn hạn mức tín dụng từ 02/2018 đến 02/2019 - Đến 02/2019 tôi nghỉ việc và bàn giao đầy đủ hàng hóa và hồ sơ công ty có xác nhận của người nhận bàn giao và trưởng phòng - Dự nợ lúc đó là 28 tỷ (gồm 10 khế ước từ số 1 đến 10)

- Sau khi tôi nghỉ việc, các cán bộ quản lý công ty khác trình duy trì hạn mức tín dụng của công ty do hết thời hạn hạn mức, Và Giải ngân thêm 10 khế ước nữa từ Khế ước 11 đến khế ước 20.

- Và công ty đã tất toán 10 khế ước từ 01 đến 10 do tôi trình giải ngân - Và các khế ước từ 11 đến 20 do người khách trình giải ngân đã bị quá hạn không có khả năng thu hồi

- Sau đó Ngân hàng gửi đơn tố cáo lên Cơ quan chức năng khởi kiện công ty về việc lừa đảo chiếm đoạt 10 khế ước nhận nợ từ 11 đến 20.

Cho tôi hỏi: Trong trường hợp như vậy: Các khế ước nhận nợ do tôi trình giải ngân đã tất toán hết, Hạn mức tín dụng do tôi trình đã hết hạn và đã được người khác trình duy trì, tái cấp. Và tôi cung đã bàn giao đầy đủ có biên bản bàn giao. Vậy tôi có phải chịu trách nhiệm liên đới trong việc quá hạn (lừa đảo chiếm đoạt) của công ty hay không?

- Căn cứ theo điều 206 của BLHS hay điều luật nào? Kinh mong luật sư trả lời, xin cảm ơn quí luật sư.

>> Luật sư tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”.

Khái niệm: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó

1.1 Mặt khách quan

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

1.2 Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân.

1.3 Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Tuy nhiên cần lưu ý: Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.

Như vậy, bạn có thể căn cứ vào những phân tích trên đây để biết mình có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hành vi này không. Bởi trong thư bạn không nói rõ về mặt chủ quan, ý chí, mục đích, mong muốn của bạn khi thực hiện các hành vi trên nên chúng tôi chỉ có thể trao đổi với bạn như sau: Nếu bạn biết rõ hành vi của công ty mình là dùng thủ đoạn gian dối, cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của ngân hàng và giúp sức thực hiện hành vi đó thì bạn phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp bạn không có hành vi gian dối, không có mục đích chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý thì bạn không phạm tội danh này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Giả mạo chữ ký để thừa kế tài sản giải quyết như thế nào ? Cách chia tài sản thừa kế hợp pháp ?

2. Lấy tiền rồi bỏ trốn có bị truy cứu TNHS không ?

Em chào luật sư, thưa luật sư em có một việc muồn nhớ luật tư tư vấn giúp ạ: Trước đây vào năm 2017 em có làm ăn với một người khác tỉnh, em sinh năm 91, em ở tình Phú Thọ, người kia ở tỉnh Lào Cai, chúng em đã quen và làm ăn với nhau qua một người bạn trên tỉnh Yên Bái. Vào giữa năm 2015 em và người ấy có buôn bán trao đổi hàng hóa nông sản với nhau nhưng trong quá trình buôn bán người ta có đưa cho em 100 triệu đồng và hẹn thời gian lấy hàng nhưng trong quá trình làm ăn bà ta rất xảo quyệt và dùng những thủ đoạn gian xảo nhất để làm với em. Em có bán cho bà ta hai lần hàng và nhận tiền mặt đầy đủ, sau 2 lần đó vì bà ta thấy các bạn hàng của em làm ăn với em rất nhiều và thuận lợi nên bà ta đã nói chuyện và muốn làm ăn cùng với em, rồi bà ta đưa em số tiền nói trên (100tr) vì nghĩ đến những điều bà ta đã đối xử với em nên bỏ về quê và không làm ăn với bà ấy nữa.

Em về quê được 6 tháng rồi đi nước ngoài. Khi bà ta đưa tiền cho em hình như chỉ thỏa thuận bằng miệng với nhau chưa không có giấy tờ gì. Vậy cho em hỏi sau 4 năm em từ nước ngoài trở về thì có bị làm sao không?

Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chúng tôi xin được giả sử người phụ nữ làm ăn với bạn là bà A thì theo như thông tin bạn cung cấp thì việc bà ta đưa tiền cho bạn là 100 triệu không có một giấy tờ nào cả mà chỉ là thỏa thuận bằng miệng. Chính vì thế đối vớ trường hợp này của bạn sẽ không có đủ căn cứ chứng minh rằng bạn bị tội gì.

Tuy nhiên, nếu bà A cung cấp được người làm chứng thì bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, vì:

Theo quy định tại Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

...

Vì thế nếu bà A chứng minh được giữa bạn bà ý có tồn tại một hợp đồng nào đó thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cả người khác:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng....... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

....

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

Sau khi nhận được tiền và bạn lại bỏ trốn nên nếu có căn cứ chứng minh giữa bạn và bà A có tồn tại một hợp đồng thì bạn vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội này.

Còn về vấn đề sau 4 năm bạn về nước bạn có bị truy cứu trách nhiệm gì không, thì theo khoản 2 Điều 27 BLHS năm 2015 về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

...

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với giá trị tài sản là 100 triệu đồng thuộc loại tội nghiêm trọng vì thế thời hiệu sẽ là 10 năm, trường hợp của bạn là 4 năm vì thế bạn vẫn có thể hoàn toàn bị khởi tố hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

3. Tư vấn lừa đảo qua mạng ?

Thưa luật sư! Ngày 14/4 Em có dùng dịch vụ tăng like fanpage của 1 bạn ( A ) Trong cam kết của website, có nói sẽ bảo hành like và cam kết 100% like thật, vv, vv.. E tăng 200.000 like cho fanpage đẹp và hấp dẫn hơn,với giá 5 triệu 200 nghìn đồng. Nhưng sau 1 tháng chỉ còn 9000 like . Trước đó em có thỏa thuận là e muốn tăng like nhưng đảm bảo page Không gộp like từ những page khác .

Nhưng sau đó họ vẫn gộp, nhưng rồi em cho qua Sau 1 tháng ,facebook kiểm duyệt và tách các fanpage khác ra nên chỉ còn 9.000 like Em có nói chuyện muốn bồi thường hoàn toàn , e sẽ mua lại fanpage cũ 9000 like với giá 1200K ( bình thường tăng like là khoảng 800K /9000 like ),và đòi A trả lại 4 triệu nhưng A nói lỗi là do facebook chứ không phải do A .

E thấy kể cả do facebook thì họ cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho em, và A đảm bảo rồi em mới làm, bây giờ A bảo đền bù 50% số like, em không chịu vì em không muốn những like như thế . Đăng này trước khi làm e đã thỏa thuận là Không Gộp Page. Rồi A nói hôm sau sẽ trả lời, nhưng em có nhắn bao nhiêu thì A cũng chỉ đọc chứ không trả lời. Vậy em có thể dựa vào đó tố tụng dân sự không, và phải làm như thế nào ạ ? Em xin chân thành cảm ơn luật sư ?

Em mong nhận được hồi âm sớm của luật sư ạ . Em cảm ơn luật sư ạ .

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội lừa đảo trực tuyến,gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo đó:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

Có thể thấy người bạn A đã cố tình cung cấp thông tin không đúng sự thật về dịch vụ tăng like.Theo cam kết là tăng like thật nhưng khi tiến hành thì lại không đúng như vậy. Bên cạnh đó,mục đích của bên A là nhằm chiếm đoạt số tiền của bạn dù cho bạn đã yêu cầu họ phải bồi thường nhưng lại lẩn tránh. Như vậy thì đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bạn sẽ làm đơn tố cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và gửi lên cơ quan công an nơi cư trú gần nhất của bạn hoặc cơ quan công an nơi ( nếu bạn biết địa chỉ trụ sở chính nơi kinh doanh hoạt động trang web này).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

4. Bạn mới quen lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, em tên là NT, năm nay em 24 tuổi. Hiện em đang gặp một tình huống liên quan đến hành vi lừa đảo chếm đoạt tài sản rất mong luật sư tư vấn giúp em.

Khoảng tháng 4 năm 2018, em có tình cờ gặp 1 người bạn, tên Liên, sinh năm 1990, sau đó chúng em có kết thân và chơi với nhau. Sau đó, em giới thiệu Liên vào làm chung công ty với em thời điểm đó. Cùng lúc đó, laptop của em cũng bị hư cần phải đi nâng cấp lên nên Liên đã có nhã ý cài giúp em. Vì chủ quan em đã đồng ý đưa laptop cho Liên sửa.

Qua 1 tháng, em có hỏi laptop sửa xong chưa để em qua lấy về thì Liên bảo muốn mượn laptop của em để dùng, vì lý do laptop của Liên không đủ mạnh để cài chương trình 3D. Và sau 6 tháng sau khi em đưa laptop cho Liên, tức là tháng 12/2018, em có đòi lại laptop cho bằng được thì Liên không những không trả mà còn làm khó dễ em. Sau đó Liên hứa sẽ trả nhưng tới hôm nay vẫn không trả.

Em mong Luật sư sẽ đọc qua mail này và cho em những lời khuyên ạ. Em cảm ơn Luật Sư.

Người gửi: NT

>> Luật sư tư vấn hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo các thông tin bạn cung cấp thì Liên đã có được tài sản của bạn bằng phương thức hợp đồng nhờ sửa giữa hai bên, sau đó liên bằng nhiều thủ đoạn gian dối đã cố tình chiếm giữ tài sản đó và không có ý ddingj trả lại. Vậy theo tôi nhận thấy ở đây có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác.

Hành vi chiếm đoạt tài sản của Liên đã xâm phạm đến quan hệ mà pháp luật hình sự bảo vệ, cụ thể trong trường hợp này là quan hệ sở hữu. Vì vậy, bạn có thể báo với cơ quan công an hoặc cơ quan có thẩm quyền khác để khởi tố Liên về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, việc bạn cho Liên mượn laptop đã xác lập quan hệ hợp đồng mượn tài sản với hình thức của hợp đồng là hợp đồng miệng. Vì vậy, việc Liên không trả lại chiếc laptop cho bạn là vi phạm hợp đồng mượn tài sản và Tòa án sẽ buộc Liên phải trả lại cho bạn chiếc laptop đó. Trong trường hợp Liên đã bán, làm hư hỏng hoặc làm mất thì Liên sẽ phải bồi thường cho bạn.

5. Thủ tục tố giác tội phạm

Theo Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự: “Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền”; và cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm của bạn, nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan điều tra thì cơ quan điều tra có trách nhiệm chuyển vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

1. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.

Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.

2. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.”

Nếu bạn gửi tin báo, tố giác tội phạm mà cơ quan điều tra không thụ lý, không thực hiện đúng trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự, gây ảnh hưởng đến quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm thì bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến thủ trưởng cơ quan điều tra nơi bạn gửi để họ xem xét lại vụ việc và yêu cầu họ trả lời bằng văn bản về việc chưa giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?