1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong cho vay tín dụng ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề muốn hỏi liên quan đến “Vi phạm về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”. Nội dung chi tiết:

- Tôi là cán bộ tín dụng;

- Tháng 02/2008 tôi trình cấp một hạn mức tín dụng cho công ty 50 tỷ;

- Tài sản đảm bảo là Lô hàng trong kho có bảo vệ của bên thứ 3.

- Kí hợp đồng 3 bên về việc giữ hàng trong kho.

Công ty bảo vệ có trách nhiệm giữ hàng 24/24, chỉ được cho lấy hàng ra khi có lệnh giải chấp từ ngân hàng

- Thời hạn hạn mức tín dụng từ 02/2008 đến 02/2009 - Đến 02/2009 tôi nghỉ việc và bàn giao đầy đủ hàng hóa và hồ sơ công ty có xác nhận của người nhận bàn giao và trưởng phòng - Dự nợ lúc đó là 28 tỷ( gồm 10 khế ước từ số 1 đến 10)

- Sau khi tôi nghỉ việc, các cán bộ quản lý công ty khác trình duy trì hạn mức tín dụng của công ty do hết thời hạn hạn mức, Và Giải ngân thêm 10 khê ước nữa từ Khế ước 11 đến khế ước 20.

- Và công ty đã tất toán 10 khế ước từ 01 đến 10 do tôi trình giải ngân - Và các khế ước từ 11 đến 20 do người khách trình giải ngân đã bị quá hạn không có khả năng thu hồi

- Sau đó Ngân hàng gửi đơn tố cáo lên Cơ quan chức năng khởi kiện công ty về việc lừa đảo chiếm đoạt 10 khế ước nhận nợ từ 11 đến 20.

Cho tôi hỏi: Trong trường hợp như vậy: Các khế ước nhận nợ do tôi trình giải ngân đã tất toán hết, Hạn mức tín dụng do tôi trình đã hết hạn và đã được người khác trình duy trì, tái cấp. Và tôi cung đã bàn giao đầy đủ có biên bản bàn giao. Vậy tôi có phải chịu trách nhiệm liên đới trong việc quá hạn (lừa đảo chiếm đoạt) của công ty hay không?

- Căn cứ theo điều 179 của BLHS hay điều luật nào? Kinh mong luật sư trả lời, xin cảm ơn quí luật sư.

>> Luật sư tư vấn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”.

Khái niệm: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó

1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Tuy nhiên cần lưu ý: Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

Như vậy, bạn có thể căn cứ vào những phân tích trên đây để biết mình có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hành vi này không. Bởi trong thư bạn không nói rõ về mặt chủ quan, ý chí, mục đích, mong muốn của bạn khi thực hiện các hành vi trên nên chúng tôi chỉ có thể trao đổi với bạn như sau: Nếu bạn biết rõ hành vi của công ty mình là dùng thủ đoạn gian dối, cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của ngân hàng và giúp sức thực hiện hành vi đó thì bạn phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp bạn không có hành vi gian dối, không có mục đích chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý thì bạn không phạm tội danh này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

2. Lừa dối khách hàng có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Trong bài viết này, Luật Minh Khuê phân tích và làm rõ một số điểm giống và khác nhau cơ bản giữa Tội lừa dối khách hàng và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Trả lời:

Điều 162, Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định về tội danh lừa dối khách hàng, nội dung cụ thể như sau:

1. Người nào trong việc mua, bán mà cân, đong, đo, đếm, tính gian, đánh tráo loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội nhiều lần hoặc thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo điểm a, khoản 2, điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định : "Sửa đổi cụm từ “năm trăm nghìn đồng” thành cụm từ “hai triệu đồng” tại khoản 1 các điều 139".

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Tội lừa dối khách hàng giống nhau và khác nhau như thế nào so với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là tội mà người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó. Tội lừa dối khách hàng là hành vi tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý, người phạm tội biết rõ hành vi lừa dối khách hàng của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì vụ lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm. So với tội lừa đảo chiểm đoạt tài sản, tội lừa dối khách hàng có điểm giống nhau và khác nhau như sau:

+ Giống nhau:

- Về mặt khách quan, cả hai tội đều thực hiện hành vi phạm tội bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản;

- Về mặt chủ quan, cả hai tội đều thực hiện do hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội đều thấy trước hành vi của mình là gian dối, trái pháp luật, nguy hiểm; tuy nhiên người phạm tội mong muốn thực hiện được hành vi của mình để chiếm đoạt tài sản của người khác.

+ Khác nhau:

- Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của người khác, còn khách thể của tội lừa dối khách hàng là trật tự kinh doanh xã hội chủ nghĩa và lợi ích của người tiêu dùng.

- Hành vi trong yếu tố khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin tưởng vào sự gian dối mà trao tài sản cho người phạm tội. Hành vi trong yếu tố khách quan của tội lừa dối khách hàng tuy có thủ đoạn gian dối nhưng gian dối trong các lĩnh vực mua, bán bằng thủ đoạn cân, đông đo, đếm, tính gian, đánh tráo mặt hàng để lấy tiền của khách hàng.

- Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào, còn chủ thể của tội lừa dối khách hàng phải là người làm nghề mua, bán hàng

- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lừa dối khách hàng khác nhau về điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự. Tội lừa đảo quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 500.000 đồng trở lên, còn tội lừa dối khách hàng không quy đinh đinh lượng giá trị tài sản chiếm đoạt được bằng thủ đoạn gian dối trong mua, bán.

- Hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định nặng hơn nhiều so với tội lừa dối khách hàng. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình là hình phạt cao nhất; còn tội lừa dối khách hàng có hình phạt tối đa là từ 2 năm đến 7 năm. Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất và mức độ nguy hiểm nhiều hơn so với tội lừa dối khách hàng.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Lấy tiền rồi bỏ trốn có bị truy cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không ?

Em chào luật sư, thưa luật sư em có một việc muồn nhớ luật tư tư vấn giúp ạ: Trước đây vào năm 2012 em có làm ăn với một người khác tỉnh, em sinh năm 91, em ở tình Phú thọ, người kia ở tỉnh lào cai, chúng em đã quen và làm ăn với nhau qua một người bạn trên tỉnh yên bái. Vào giữa năm 2010 em và người ấy có buôn bán trao đổi hàng hóa nông sản với nhau nhưng trong quá trình buôn bán người ta có đưa cho em 100 triệu đồng và hẹn thời gian lấy hàng nhưng trong quá trình làm ăn bà ta rất xảo quyệt và dùng những thủ đoạn gian xảo nhất để làm với em. Em có bán cho bà ta hai lần hàng và nhận tiền mặt đầy đủ, sau 2 lần đó vì bà ta thấy các bạn hàng của em làm ăn với em rất nhiều và thuận lợi nên bà ta đã nói chuyện và muốn làm ăn cùng với em, rồi bà ta đưa em số tiền nói trên (100tr) vì nghĩ đến những điều bà ta đã đối xử với em nên bỏ về quê và không làm ăn với bà ấy nữa.

Em về quê được 6 tháng rồi đi nước ngoài. Khi bà ta đưa tiền cho em hình như chỉ thỏa thuận bằng miệng với nhau chưa không có giấy tờ gì. Vậy cho em hỏi sau 4 năm em từ nước ngoài trở về thì có bị làm sao không?

Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Chúng tôi xin được giả sử người phụ nữ làm ăn với bạn là bà A thì theo như thông tin bạn cung cấp thì việc bà ta đưa tiền cho bạn là 100 triệu không có một giấy tờ nào cả mà chỉ là thỏa thuận bằng miệng. Chính vì thế đối vớ trường hợp này của bạn sẽ không có đủ căn cứ chứng minh rằng bạn bị tội gì.

Tuy nhiên, nếu bà A cung cấp được người làm chứng thì bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội llạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, vì:

theo quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2005:

"Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán"

Vì thế nếu bà A chứng minh được giữa bạn bà ý có tồn tại một hợp đồng nào đó thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Sau khi nhận được tiền và bạn lại bỏ trốn nên nếu có căn cứ chứng minh giữa bạn và bà A có tồn tại một hợp đồng thì bạn vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội này.

Còn về vấn đề sau 4 năm bạn về nước bạn có bị truy cứu trách nhiệm gì không, thì theo Điều 23 BLHS năm 199 về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

"1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng"

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thuộc loại tội ít nghiêm trọng vì thế thời hiệu sẽ là 5 năm, trường hợp của bạn là 4 năm vì thế bạn vẫn có thể hoàn toàn bị khởi tố hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Tư vấn lừa đảo qua mạng ?

Thưa luật sư! Ngày 14/4 Em có dùng dịch vụ tăng like fanpage của 1 bạn ( A ) Trong cam kết của website , có nói sẽ bảo hành like và cam kết 100% like thật , vv, vv.. E tăng 200.000 like cho fanpage đẹp và hấp dẫn hơn,với giá 5 triệu 200 nghìn đồng. Nhưng sau 1 tháng chỉ còn 9000 like . Trước đó em có thỏa thuận là e muốn tăng like nhưng đảm bảo page Không gộp like từ những page khác .

Nhưng sau đó họ vẫn gộp , nhưng rồi em cho qua Sau 1 tháng ,facebook kiểm duyệt và tách các fanpage khác ra nên chỉ còn 9.000 like Em có nói chuyện muốn bồi thường hoàn toàn , e sẽ mua lại fanpage cũ 9000 like với giá 1200K ( bình thường tăng like là khoảng 800K /9000 like ) ,và đòi A trả lại 4 triệu nhưng A nói lỗi là do facebook chứ không phải do A .

E thấy kể cả do facebook thì họ cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho em , , và A đảm bảo rồi em mới làm , bây giờ A bảo đền bù 50% số like , em không chịu vì em không muốn những like như thế . Đăng này trước khi làm e đã thỏa thuận là Không Gộp Page . Rồi A nói hôm sau sẽ trả lời , nhưng em có nhắn bao nhiêu thì A cũng chỉ đọc chứ không trả lời . Vậy em có thể dựa vào đó tố tụng dân sự không , và phải làm như thế nào ạ ? Em xin chân thành cảm ơn luật sư ?

Em mong nhận được hồi âm sớm của luật sư ạ . Em cảm ơn luật sư ạ .

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội lừa đảo trực tuyến,gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo đó:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Có thể thấy người bạn A đã cố tình cung cấp thông tin không đúng sự thật về dịch vụ tăng like.Theo cam kết là tăng like thật nhưng khi tiến hành thì lại không đúng như vậy.Bên cạnh đó,mục đích của bên A là nhằm chiếm đoạt số tiền của bạn dù cho bạn đã yêu cầu họ phải bồi thường nhưng lại lẩn tránh.Như vậy thì đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bạn sẽ làm đơn tố cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và gửi lên cơ quan công an nơi cư trú gần nhất của bạn hoặc cơ quan công an nơi ( nếu bạn biết địa chỉ trụ sở chính nơi kinh doanh hoạt động trang web này).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Phải làm gì khi bị bạn mới quen lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, em tên là NT, năm nay em 24 tuổi. Hiện em đang gặp một tình huống liên quan đến hành vi lừa đảo chếm đoạt tài sản rất mong luật sư tư vấn giúp em.

Khoảng tháng 4 năm 2014, em có tình cờ gặp 1 người bạn, tên Liên, sinh năm 1990, sau đó chúng em có kết thân và chơi với nhau. Sau đó, em giới thiệu Liên vào làm chung công ty với em thời điểm đó. Lúc đầu Liên bảo với em Liên tốt nghiệp trường RMIT năm 2012 và học ngành Truyền thông đa phương tiện. Cùng lúc đó, laptop của em cũng bị hư cần phải đi nâng cấp lên nên Liên đã có nhã ý cài giúp em. Vì chủ quan em và Liên làm chung công ty, em biết ba mẹ và nhà Liên ở đâu nên em đã đồng ý đưa laptop cho Liên sửa.

Qua 1 tháng, em có hỏi laptop sửa xong chưa để em qua lấy về thì Liên bảo bên công ty quảng cáo cũ nhờ Liên thiết kế 1 đề án nên Liên muốn mượn laptop của em để dùng, vì lý do laptop của Liên không đủ mạnh để cài chương trình 3D. Và sau 6 tháng sau khi em đưa laptop cho Liên, tức là tháng 12/2014, em có tức giận và đòi lại laptop cho bằng được thì Liên không những không trả mà còn làm khó dễ em là em phải trả lại hết tất cả những món quà mà Liên tặng em trong thời gian chơi với nhau thì Liên mới trả lại laptop.

Bên phía gia đình em biết chuyện nên cũng đồng ý để đổi lại cái laptop, sau đó Liên hứa sẽ trả nhưng tới hôm nay vẫn không trả.

Thưa luật sư, trong trường hợp này em nên làm gì? Gia đình em cũng nghĩ đến việc báo công an nhưng em sợ nếu Liên đã bán cái laptop đó mà công an không tìm ra cái laptop đó thì gia đình em có khởi kiện thành công và đòi lại công bằng cho mình không? Em có đầy đủ bằng chứng em là chủ nhân của cái laptop đó, và những tin nhắn Liên thừa nhận là đang giữ cái laptop đó.

Em mong Luật sư sẽ đọc qua mail này và cho em những lời khuyên ạ. Em cảm ơn Luật Sư.

Người gửi: NT

>> Luật sư tư vấn hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Tùy thuộc vào việc ngay từ đầu Liên đã có ý định chiếm đoạt chiếc laptop của bạn hay sau khi mượn mới có ý định chiếm đoạt chiếc laptop đó mà cơ quan có thẩm quyền mới định tội được hành vi của Liên là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 hay tội lạm dụng tín nhiệm tài sản theo Điều 140 BLHS.

Tuy nhiên, hành vi chiếm đoạt tài sản của Liên đã xâm phạm đến quan hệ mà pháp luật hình sự bảo vệ, cụ thể trong trường hợp này là quan hệ sở hữu. Vì vậy, bạn có thể báo với cơ quan công an hoặc cơ quan có thẩm quyền khác để khởi tố Liên về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Khoản 1 Điều 139 và khoản 1 Điều 140 BLHS quy định như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm...

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản..."

Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, việc bạn cho Liên mượn laptop đã xác lập quan hệ hợp đồng mượn tài sản với hình thức của hợp đồng là hợp đồng miệng. Vì vậy, việc Liên không trả lại chiếc laptop cho bạn là vi phạm hợp đồng mượn tài sản và Tòa án sẽ buộc Liên phải trả lại cho bạn chiếc laptop đó. Trong trường hợp Liên đã bán, làm hư hỏng hoặc làm mất thì Liên sẽ phải bồi thường cho bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?