Mô hình định giá tài sản đầu tư (capital asset pricing model) là mô hình được xây dựng vào những năm 60. Nó là hình thức cụ thể của quan niệm chung về sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi tức. Nó giả định có mối quan hệ tuyến tính thuận giữa rủi ro và lợi tức dự kiến thu được từ một cơ cấu tài sản đa dạng hoá. Mức rủi ro có hệ thống của cơ cấu tài sản đó được tính bằng tham số b trong phương trình:
r = r, + /?(rm - 1'ị)
Trong đó I là lợi tức dự kiến của cơ cấu tài sản, r, là Lãi suất không chịu rủi ro (chẳng hạn tín phiếu kho bạc), b là tham số phản ánh mức độ biến động của cơ cấu tài sản này so với cơ cấu tài sản thị trường (tức một kết hợp tất cả các chứng khoán trong đó mỗi loại được lấy theo tỷ trọng của nó trong tổng giá trị thị trường). Do tính chất phân tán của nó mà tất cả các rủi ro có thể tránh được đều bị loại khỏi cơ cấu tài sản thị trường, cho nên phần rủi ro còn lại - gọi là rủi thị trường có hệ thống – gắn chặt với những biến động của nền kinh tế. c,là lợi tức dự kiến thu được từ cơ cấu tài sản thị trường.
Biểu thức (r„ - r, ) được gọi là phần thưởng cho việc chấp nhận rủi ro thị trường. Ví dụ nếu ty = 3%,= 8% và b = 2 (giá trị b = 2 biểu thị một cơ cấu tài sản có mức độ rủi ro gấp đôi mức thay đổi bất kỳ trong lợi tức của cơ cấu tài sản thị trường), r = 3 + 2(8 - 3) = ] 3%, nghĩa là lợi tức dự kiến thu được từ cơ cấu tài sản có mức rủi ro hệ thống và tham số b như trên bằng 13%.
Một mô hình khác gắn bó chặt chẽ với mô hình này là mô hình thị trường. Nó khẳng định lợi tức thu được từ một chứng khoán hoặc cơ cấu tài sản có thành tố thị trường và thành tố phi thị trường. Lợi tức này được tính theo công thức:
r = a + brm + u
trong đó thành tố phi thị trường là « - phần biểu thị sai số - và a là lợi tức bình quân của chứng khoán hay cơ cấu chứng khoán khi lợi tức của cơ cấu tài sản thị trường bằng 0. Mô hình này có thể biểu thị dưới dạng tương đương với mô hình định giá tài sản đầu tư khi không có a - thành phần có xu hướng biến mất trên thị trường (hoạt động có) hiệu quả, nếu các nguồn vốn chuyển tới chứng khoán hay cơ cấu tài sản có lợi tức cao hơn này.