1. Bản chất pháp lý và khái niệm của chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Bản chất pháp lý của chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có thể hiểu như sau: Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là một chế định nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam và được thể hiện ở chỗ - Tòa án quyết định dừng lại việc chấp hành hình phạt tù đã được tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án đang chấp hành hình phạt đó trong một thời hạn nhất định khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện được quy định trong pháp luật hình sự. Từ những phân tích trên đây, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những điểm hợp lý trong các khái niệm về chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và những vấn đề đã được thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm nghiệm, có thể rút ra định nghĩa khoa học về chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù như sau: Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc tạm dừng lại trong một thời gian nhất định việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án đang chấp hành hình phạt đó.

2. Mối quan hệ giữa thi hành án hình phạt tù với hoãn chấp hành hình phạt tù 

Thi hành án phạt tù có thời hạn là buộc người bị kết án phạt tù có thời hạn chấp hành hình phạt tại trại giam, trại tạm giam trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục họ trở thành người lương thiện. Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Tòa án cho phép người bị kết án chuyền việc thi hành án phạt tù sang thời điểm muộn hơn. Nói một cách khác, đó là việc cho phép người bị kết án tiếp tục sống và làm việc ngoài xã hội, chưa buộc người này phải vào trại giam đề chấp hành hình phạt tù. Từ hai khái niệm trên có thể thấy sự khác nhau giữa thi hành án hình phạt tù và hoãn chấp hành hình phạt tù là về thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Đối với thi hành án hình phạt tù thì ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có quyết định thi hành án hình phạt tù thì người bị kết án phải sống và làm việc trong trại giam, trại tạm giam một thời gian nhất định đã được ghi trong bản án của Tòa án, họ bị tước tự do cư trú và đi lại. Còn đối với hoãn chấp hành hình phạt tù thì khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án hình phạt tù, nêu có quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án được tiếp tục sinh sống và làm việc ngoài xã hội, chưa phải vào trại giam để chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định. 
Mối quan hệ giữa thi hành án hình phạt tù và hoãn chấp hành hình phạt tù được thê hiện khi án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án có quyết định thi hành án hình phạt tù, nếu vì những lý do nhất định (đặc biệt) thuộc về nhân thân người bị kết án và có đủ các điều kiện cụ thể mà Bộ luật hình sự quy định thì có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định. Sau khi hết thời gian hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án phải thi hành án hình phạt tù theo quyết định của Tòa án. Trong thời gian hoãn chấp hành hình phạt tù hoặc khi hết thời gian hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt và không phải thi hành hình phạt tù nếu có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. 

3. Mối quan hệ giữa thi hành án hình phạt tù với tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù 

Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc Tòa án cho phép người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam được tạm dừng việc ở lại trại giam đề chấp hành hình phạt, đồng thời họ được trả tự do nếu không bị giam giữ về một tội phạm khác khi có những điều kiện cụ thể do Bộ luật hình sự quy định. 
Tương tự như hoãn chấp hành hình phạt tù, có thể thấy sự khác nhau giữa thi hành án hình phạt tù và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là về thời hạn chấp hành hình phạt tù. Đối với thí hành án hình phạt tù thì ngay khi có quyết định thi hành án hình phạt tù thì người bị kết án phải sống và làm việc trong trại giam, trại tạm giam một thời gian nhất định đã được phi trong bản án của Tòa án, họ bị tước tự do cư trú và đi lại. Đối với tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì người bị kết án đang chấp hành quyết định thi hành án hình phạt tù một thời gian, khi có quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì người bị kết án được tạm dừng việc thị hành án phạt tù, được trả tự do, được tiếp tục sinh sống và làm việc ngoài xã hội, chưa phải chấp hành hình phạt tù còn lại trong một thời gian nhất định. 
Mối quan hệ giữa thi hành án hình phạt tù và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được thể hiện khi án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án có quyết định thi hành án hình phạt tù và đang thi hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, nếu vì những lý do nhất định (đặc biệt) thuộc về nhân thân người bị kết án và có đủ các điều kiện cụ thể mà Bộ luật hình sự quy định thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù còn lại trong một thời gian nhất định. Sau khi hết thời gian tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người bị kết án phải tiếp tục thi hành án hình phạt tù thời gian còn lại chưa thi hành. Trong thời gian tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù hoặc khi hết thời gian tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt và không phải thi hành hình phạt còn lại nếu có đủ các điều kiện do pháp luật quy định.

4. Khái niệm của chế định hoãn chấp hành hình phạt tù 

Về nguyên tắc, khi bản án có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tô chức, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, người bị kết án phải chấp hành nghiêm chỉnh theo đúng các quy định của pháp luật về hình phạt. Đây là một nguyên tắc đã được ghi nhận trong Hiến pháp, điều này thể hiện tầm quan trọng của vẫn đề thi hành án nói chung và thi hành bản án phạt tù có thời hạn nói riêng. Tuy nhiên vì những lý do nhất định (đặc biệt) thuộc về nhân thân người bị kết án, hoàn cảnh, điều kiện gia đình hoặc nhu cầu công vụ nên người bị kết án phạt tù chưa thể đi thi hành án ngay được và người bị kết án có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù. Nghiên cứu các quy phạm pháp luật hình sự ở nước ta về chế định hoãn chấp hành hình phạt tù cho thây kể từ khi thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho đến trước khi Bộ luật hình sự đầu tiên được Quốc hội thông qua năm 1985, vẫn đề hoãn chấp hành hình phạt tù chưa được quy định trong một văn bản pháp luật hình sự nào. Vì vậy, trên thực tế, vẫn đề hoãn chấp hành hình phạt tù chưa được đẻ cập nghiên cứu ở giai đoạn này. Lần đầu tiên, vẫn đề hoãn chấp hành hình phạt tù được quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1985. Tại điều luật này đã quy định điều kiện để hoãn chấp hành hình phạt tù. Việc Bộ luật hình sự không quy định khái niệm hoãn chấp hành hình phạt tù đã gây ra không ít cách hiểu khác nhau trong giới luật học. Vấn đề hoãn chấp hành hình phạt tủ tiếp tục được quy định đầy đủ hơn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và sau này được sửa đổi, bổ sung, quy định cụ thể tại Điều 61 Bộ luật hình sự 1999. Cũng giống như Bộ luật hình sự 1985 và Bộ luật tố tụng hình sự 1988, Bộ luật hình sự năm L999 cũng không đưa ra được khái niệm hoãn chấp hành hình phạt tù mà chỉ quy định về các điều kiện để được hoãn chấp hành hình phạt tù. Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù nằm trong hệ thống các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam. Đề hiểu khái niệm hoãn chấp hành hình phạt, cần phân tích và làm rõ các khái niệm " hình phạt", " chấp hành", " hoãn" từ góc độ Luật hình sự, trên cơ sở đó, phân tích, đưa ra những đặc trưng thuộc về nội hàm khái niệm của chế định hoãn chấp hành hình phạt tù. Khái niệm "hình phạt”, dưới góc độ luật hình sự là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định. Hình phạt được sử dụng như công cụ hữu hiệu trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của nhân dân. Đối với chế độ xã hội ta, hình phạt bên cạnh mục đích trừng trị còn có mục đích giáo dục, phòng ngừa và mang đầy đủ bản chất nhân đạo. Đối với khái niệm "Chấp hành" theo Từ điển Tiếng Việt dùng để chỉ việc " thi hành, thực hiện những điều quy định trong chính sách pháp luật, kế hoạch, mệnh lệnh, phán quyết". Tuy nhiên, dưới góc độ luật hình sự thì chấp hành là việc thi hành những quyết định có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền. Theo đó, những cá nhân bị coi là có tội khi đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Trong bản án có hiệu lực đó, người bị kết án phải có nghĩa vụ chấp hành toàn bộ quyết định của bản án đã tuyên đối với mình. Khái niệm "hoãn" theo Từ điển Tiếng Việt có nghĩa là "chuyển thời điểm định làm việc gì đó sang thời điểm khác muộn hơn" . Dưới góc độ luật hình sự thì "hoãn" là tạm đừng, chưa phải chấp hành một quyết định nào đó của cơ quan có thẩm quyền mà lẽ ra mình phải bị chấp hành.
Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì nhà làm luật đã sử dụng thuật ngữ "Hoãn thi hành án phạt từ" để quy định về việc chuyển thi hành án hình phạt tù cho người bị kết án sang thời điểm muộn hơn. Mặc dù trong điều luật cụ thể thì các nhà làm luật vẫn sử dụng cụm từ "Hoãn chấp hành hình phạt". Sau này, tại Bộ luật hình sự 1999 các nhà làm Luật đã sửa đổi thành cụm từ " Hoãn chấp hành hình phạt tù". Thực tế nghiên cứu và áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy, từ trước đến nay chưa hề xuất hiện một định nghĩa pháp lý về hoãn chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên ở các mức độ khác nhau, trong khoa học Luật hình sự Việt Nam cũng có những nghiên cứu và cách hiểu khác nhau về khái niệm hoãn chấp hành hình phạt tù. Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng: "Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc chuyển thi hành hình phạt tù sang thời điểm muộn hơn" . 
Cũng có quan điểm nhắn mạnh ý nghĩa và điều kiện áp dụng khi nêu "Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam. Chế định này được áp dụng trong những trường hợp người bị kết án bị bệnh nặng, là phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ, là người lao động duy nhất trong gia đình hoặc nhu cầu công vụ"... . Còn theo quan điểm của TSKH.PGS. Lê Văn Cảm: "Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc tạm dừng lại trong một thời hạn nhất định việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án nếu người này chưa chấp hành hình phạt đó". Hay quan điểm của TS.Trịnh Tiền Việt: 
Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Tòa án cho phép người bị kết án chuyên việc thi hành án phạt tù sang thời điểm muộn hơn. Nói một cách khác, đó là việc cho phép người bị kết án tiếp tục sống và làm việc ngoài xã hội, chưa buộc người này phải vào trại giam đề chấp hành hình phạt tù. 
Như vậy, xung quanh việc định nghĩa hoãn chấp hành hình phạt tù, trong giới nghiên cứu khoa học luật nói chung đã tồnn tại nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, định nghĩa được hoãn chấp hành hình phạt tù một cách  chính xác nhất thì trong định nghĩa hoãn chấp hành hình phạt tù phải được đưa ra cần thể hiện được cả bản chất pháp lý, điều kiện, nội dung cũng như giới hạn của hoãn chấp hành hình phạt tù.

5. Về bản chất pháp lý của chế định hoãn chấp hành hình phạt tù

Về bản chất pháp lý: hoãn chấp hành hình phạt tù phản ánh những đặc điểm cơ bản sau: Một là, hoãn chấp hành hình phạt tù là một chế định phản ánh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta đối với người bị kết án khi có những lý do nhất định. Một là, hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Tòa án cho phép người bị kết án chuyển thi hành án phạt tù sang thời điểm muộn hơn. Hai là, hoãn chấp hành hình phạt tù được áp dụng đối với một số đối tượng nhất định cho phép người bị kết án tiếp tục sống và làm việc ngoài xã hội, chưa buộc người này phải vào trại giam để chấp hành hình phạt tù. 
Về điều kiện đề áp dụng chế định hoãn chấp hành hình phạt tù: từ khái niệm, bản chất pháp lý của hoãn chấp hành hình phạt tù, chúng ta có thể thấy một căn cứ chung là khi người bị kết án chưa chấp hành hình phạt tù và tương ứng với bốn trường hợp (có ít nhất một trong bốn điều kiện tương ứng) để có thể áp dụng chế định này là: 
- Đối với người bị bệnh nặng - có thê được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi sức khỏe được phục hồi. 
- Đối với phụ nữ có thai hoặc nuôi con đến 36 tháng tuôi - có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi. 
- Đối với người bị kết án là lao động duy nhất mà nếu bắt người này chấp hành hình phạt đó thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt - có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù đến một năm. (Trừ các tội phạm về xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng). 
- Đối với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng và do nhụ cầu công vụ - có thê được hoãn chấp hành hình phạt tù đến một năm. 
Từ những phân tích nghiên cứu trên đây và tham khảo một số quan điểm vẻ hoãn chấp hành hình phạt tù, đồng thời, trên cơ sở thực tiễn công tác áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về hoãn chấp hành hình phạt tù, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về hoãn chấp hành hình phạt tù như sau: Hoãn chấp hanh hình phạt tù là việc tạm dừng lại trong một thời hạn nhất định việc chấp hành hình phạt tù của người bị kết án nếu người này chưa chấp hành hình phạt tù đó. Từ định nghĩa khoa học của khái niệm hoãn chấp hành hình phạt tù nêu trên, có thể khẳng định bản chất pháp lý của chế định này: Hoãn chấp hành hình phạt tù là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện ở chỗ - Tòa án quyết định tạm dừng lại việc chấp hành hình phạt tù đã được tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người bị kết án (nhưng chưa chấp hành hình phạt đó) trong một thời gian nhất định khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định.