1. Làm thế nào khi muốn thực hiện thủ tục ly hôn?

Xin chào luật sư, Luật sư có thể cho em biết là muốn làm thủ tục ly hôn phải làm như thế nào? Và thủ tục gồm những gì được không? Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về thủ tục ly hôn, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Trình tự, thủ tục ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Bước 1: Vợ, chồng chuẩn bị giấy tờ xin ly hôn, gồm:

  • Viết đơn, cả hai cùng ký. Trường hợp đơn phương thì người viết đơn ký.
  • Bản chính giấy Đăng ký kết hôn.
  • Bản sao có công chứng hoặc chứng thực chứng minh nhân dân và hộ khẩu của hai vợ chồng.
  • Bản sao giấy khai sinh của các con có công chứng hoặc chứng thực.
  • Kèm theo giấy tờ chứng minh tài sản chung giữa vợ và chồng (nếu có yêu cầu chia tài sản).

Bước 2: Nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền

Vợ, chồng xin ly hôn nộp các giấy tờ cần thiết và liên quan tại TAND cấp huyện nơi cư trú hoặc nơi làm việc của một trong hai bên (có thể nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện).

Bước 3: Tòa án thụ lý vụ án về lý hôn

- Tòa án nhận đơn ly hôn và ghi vào sổ nhận án. Trong thời hạn 05 - 08 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án sẽ xem xét và đưa ra một trong các quyết định: Thụ lý hay không? Trả hồ sơ để sửa đổi, bổ sung hoặc Chuyển hồ sơ cho Tòa án đúng thẩm quyền.

- Tòa án phải thông báo cho người xin ly hôn đến để nộp tiền tạm ứng án phí lý hôn trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

- Tòa án vào sổ thụ lý vụ án khi người lý hôn nộp cho Tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Trong trường hợp người xin ly hôn được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí thì Tòa án phải thụ lý án khi nhận được đơn lý hôn và hồ sơ kèm theo.

Bước 4: Hòa giải tại Tòa án

- Sau khi đã thụ lý án, Tòa án phải tiến hành hòa giải và thông báo cho vợ chồng vè thời gian, địa điểm tiến hành hòa giải.

- Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 thì có một số trường hợp không tiến hành hòa giải được là bị đơn cố tình vắng mặt đến hai lần, một bên vợ hoặc chồng không thể có mặt vì lý do chính đáng như: đang ở nước ngoài, đang thi hành án phạt tù… Hoặc vợ (chồng) bị mất năng lực hành vi dân sự.

Bước 5:Quyết định của Tòa án

Đối với trường hợp của bạn, nếu cả hai vợ chồng thuận tình ly hôn và có đầy đủ chữ ký trong đơn ly hôn thì khi hòa giải không thành, Tòa án sẽ ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn theo quy định.

Đối với trường hợp ly hôn đơn phương, sau khi hòa giải không thành thì Tòa án sẽ có quyết định đưa ra xét xử và đưa ra quyết định cuối cùng.

>> Tham khảo thêm nội dung: Điều kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn?

 

2. Có thể giải quyết ly hôn khi chỉ về Việt Nam được 05 ngày không?

Chào Luật Minh Khuê. Hiện tại, tôi đang làm việc bên Singapore. Tôi đã có chồng ở Việt Nam. Nhưng vì 2 vợ chồng không hợp nhau. Nên cả hai đã quyết định sẽ ly hôn. Tôi là người sẽ ra đi và sẽ không đòi hỏi bất kỳ tài sản nào từ phía chồng tôi hết. Vậy xin hỏi làm thế nào để tôi có thể ly hôn nhanh được không ạ? Vì tôi không thể xin phép về nước quá 05 ngày? Tôi mong công ty sẽ giúp được tôi vấn đề này. Xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

 

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật thì bạn không thể ủy quyền cho người khác giải quyết ly hôn. Nếu bạn không thể về nước quá 05 ngày thì bạn có thể yêu cầu bên Việt Nam xin ly hôn đơn phương. Sau đó, bạn làm đơn xin xét xử vắng mặt thì Tòa án sẽ tiến hành xét xử vắng mặt bạn hoặc nếu Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà bạn vẫn vắng mặt thì Tòa án sẽ xét xử vắng mặt. Cụ thể, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 228. Xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên tòa

Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;

2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa;

3. Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này."

Về thủ tục ly hôn đơn phương:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn."

Để có căn cứ chứng minh tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đượcbạn có thể tham khảo các trường hợp sau:

- Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

  • Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
  • Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
  • Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

- Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

- Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Khi có đầy đủ căn cứ, lý do chính đáng muốn ly hôn đơn phương thì Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết ly hôn cho hai vợ chồng bạn theo đúng quy định của pháp luật.

Bạn có thể tham khảo cách viết đơn xin ly hôn tại đây

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn thủ tục ly hôn, đơn ly hôn, nộp đơn ly hôn ở đâu?

 

3. Hướng xử lý khi vợ cố tình kéo dài thủ tục ly hôn tại Tòa án?

Thưa luật sư, ​vợ chồng đã ly thân, sống riêng đã 2 năm. Chồng đang làm đơn ly hôn với vợ, hồ sơ ly hôn đã được tòa án thụ lý đến giai đoạn gửi giấy triệu tập vợ đến tòa. Nhưng vợ không đồng ý ly hôn và cố tình kéo dài việc ly hôn với lý do "Để chồng không tái hôn lại được với người khác". Trong thời gian này, chồng có bạn gái mới, vậy chồng có bị coi là ngoại tình và vi phạm luật hôn nhân không? Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Thời điểm vợ chồng bạn có bản án ly hôn tại tòa tuyên, bản án đã có hiệu lực pháp luật mới là thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân của hai người. Do đó, nếu như hiện nay việc giải quyết ly hôn chưa tiến hành xong thì trên pháp luật anh chị vẫn là vợ chồng hợp pháp. Như vậy, nếu như hiện tại bên chồng có hành vi ngoại tình đủ mức độ và căn cứ để xử phạt thì người chồng sẽ bị xử phạt như sau:

- Xử phạt hành chính:

Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng:

"Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;...

Như vậy, theo quy định trên thì người đang có vợ mà chung sống như vợ chồng với người khác thì đều bị xử phạt hành chính với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với mỗi hành vi. Điều quan trọng là để xử phạt hành chính đối tượng vi phạm thì cần chứng minh được đối tượng đó có hành vi chung sống như vợ chồng với người khác. Trong đó, chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.

- Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Người chồng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau:

"Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó."

Trong đó, chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó,...

Chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây hậu quả nghiêm trọng. Hậu quả nghiêm trọng có thể là làm cho gia đình của một hoặc cả hai bên tan vỡ dẫn đến ly hôn, vợ hoặc chồng, con vì thế mà tự sát, v.v...

+ Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

 

4. Mất bao lâu để hoàn thành thủ tục ly hôn không có chữ ký của vợ?

Thưa Luật sư, tôi và vợ tôi đã ra toà ly hôn từ cuối tháng 10/2018 đến nay, mọi vấn đề về tài sản đều đã giải quyết thỏa đáng hết. Nhưng đúng lúc này vợ tôi lại đổi ý không muốn ký tên vào đơn ly hôn nữa, mặc dù trước đây vợ tôi là người đầu tiên đòi ly hôn. Đến đây rồi tôi không thể quay lại được nữa, vậy trong trường hợp này, tôi muốn đơn phương ly hôn mà không có chữ ký của vợ tôi thì tôi sẽ phải chờ đợi bao lâu, để hoàn thành thủ tục này? Cảm ơn luật sư đã tư vấn!

Mất bao lâu để hoàn thành thủ tục ly hôn không có chữ ký của vợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như dữ liệu bạn đưa ra thì bạn muốn ly hôn đơn phương với vợ và bạn muốn hỏi thời gian giải quyết ly hôn là bao lâu, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 203. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật..."

Như vậy, căn cứ vào các quy định pháp luật trên thì thời gian giải quyết ly hôn đơn phương khoảng 04 tháng đến 06 tháng.

Với trường hợp này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Tư vấn về thời gian giải quyết ly hôn đơn phương?

 

5. Xử lý vấn đề nợ sau khi tiến hành giải quyết thủ tục ly hôn?

Xin chào công ty luật Minh Khuê, tôi có vấn đề mong được các luật sư tư vấn: Vợ chồng tôi đang muốn làm thủ tục ly hôn, tôi xin trình bày tình trạng hiện tại và những điều còn chưa hiểu, rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư:

- Tình trạng: Hai vợ chồng đều thuận tình ly hôn.

- Con cái và tài sản: tự thoả thuận.

- Hai vợ chồng gần như độc lập về kinh tế, trong quá trình làm ăn chồng tôi mắc một số khoản nợ mà tôi không biết, tuy nhiên, tôi cũng đã cố gắng giúp chồng tôi giải quyết một số nợ nhưng đến nay vẫn chưa hết và trong quá trình giải quyết có một số nơi tôi có ký nợ chung cùng chồng (mặc dù các khoản vay đều là chồng tôi đi vay và tự chi tiêu) do yêu cầu của bên cho vay.

Vậy xin hỏi nếu được toà xử ly hôn thì các khoản nợ của chồng tôi bao gồm nợ do chồng tôi đứng tên và nợ do hai vợ chồng đứng tên thì sẽ được xử lý theo luật như thế nào? Xin trân trọng cảm ơn!

Người gửi: ĐMN

Tư vấn về thủ tục ly hôn?

Luật sư tư vấn luật trực tuyến gọi số:1900.6162

 

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ chồng có nghĩa vụ chung về tài sản trong những trường hợp sau đây:

"Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

Do đó, với trường hợp giải quyết nợ sau khi hai vợ chồng bạn ly hôn bạn không có nghĩa vụ phải trả nợ đối với các khoản nợ do chồng bạn đứng tên do thua lỗ trong làm ăn vì đây không thuộc trường hợp là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Tuy nhiên, hiện tại, các hợp đồng vay tài sản do bạn cùng đứng tên để thực hiện nghĩa vụ trả nợ với các khoản vay của chồng. Trong trường hợp này, để yêu cầu chồng bạn trả nợ, bạn có thể lựa chọn các cách xử lý như sau:

Thứ nhất, nếu như bạn chứng minh được rằng các khoản vay của mình là để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì trong trường hợp này, chồng bạn sẽ có nghĩa vụ trả nợ cùng với bạn vì đây thuộc một trong các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng.

Thứ hai, với một số khoản vay để trả nợ cho nghĩa vụ của chồng bạn mà nghĩa vụ đó không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yêu của gia đình hoặc không phải do vợ chồng bạn cùng thỏa thuận xác lập thì trong trường hợp này, bạn có thể yêu cầu chồng bạn phải trả cho bạn các khoản tiền này vì bạn đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho chồng. Do đó, bạn có thể yêu cầu chồng bạn phải hoàn trả lại khoản tiền mà bạn đã trả nợ thay.

>> Xem thêm nội dung: Thủ tục ly hôn khi vợ đang mang thai? Khi nào được quyền ly hôn?

 

6. Ly hôn theo yêu cầu của một bên giải quyết như thế nào?

Xin nhờ tư vấn giúp tôi việc như sau: Tôi và vợ tôi lấy nhau được 07 năm, có một đứa con trai 04 tuổi. Vào tháng 02 năm 2018 tôi phát hiện vợ ngoại tình, dẫn đến tình trạng hôn nhân tan vỡ. Nay vợ tôi lại đơn phương ly hôn nhưng tôi không muốn. Vợ tôi đã nộp đơn cho tòa án và tòa án đã gửi thông báo và giấy triệu tập tôi nhưng tôi vẫn chưa đến. Xin hỏi tôi có quyền bác đơn xin ly hôn của vợ tôi không? Và tôi phải làm thủ tục gì? Xin nhờ tư vấn giúp tôi. Trân trọng./.

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì quyền ly hôn là quyền của mỗi công dân cụ thể như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy, quyền yêu cầu giải quyết ly hôn là của mỗi người, do đó bạn không có quyền bác đơn của vợ mình. Tuy nhiên, vợ bạn ly hôn đơn phương thì chị ấy cần chứng minh được lý do ly hôn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về thủ tục tố tụng bạn nên tuân theo thủ tục của pháp luật tố tụng và nhờ sự can thiệp hòa giải của Tòa án. Nếu như bạn hiện tại không muốn ly hôn với vợ mình, bạn có thể nhờ sự can thiệp của gia đình, bạn bè người thân giúp bạn chị hào giải về những mâu thuẫn gia đình. Bởi lẽ, nếu vợ bạn có những bằng chứng để chứng minh lý do ly hôn đơn phương của cô ấy thì kể cả trong trường hợp Tòa án triệu tập bạn tới mà bạn không tới, mặc dù bạn vẫn còn ở địa phương thì Tòa án sẽ vẫn giải quyết vụ án ly hôn của hai vợ chồng bạn khi vắng mặt bạn.

 

7. Làm thế nào để ly hôn đúng quy định của pháp luật?

Thưa Luật sư: Tôi Lê Thị Ngọc Trang, sinh năm 1982 và chồng tôi Nguyễn Thanh Thuần, sinh năm 1982 đã kết hôn năm 2003 nơi tôi sinh sống Thị Trấn Khánh Vĩnh, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, nhưng đến năm 2004 vợ chồng tôi không sống chung nữa, chồng tôi đã về Thôn 2, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận sống cùng cha mẹ đẻ.

Đến năm 2014 được sự quan tâm của gia đình và cơ quan khuyên tôi nên ly hôn để có cuộc sống mới, bản thân tôi đến nay vì chuyện chưa được ly hôn nên không được vào Đảng, Tôi sẽ kể tiếp theo câu hỏi hôm trước, năm 2014 tôi được tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh chỉ dẫn vào tòa án Nhân dân huyện Ma Lâm tỉnh Bình Thuận gửi đơn, nhưng tòa ở đây lại không xử vì lý do không có mạt chồng tôi tại địa phương, nên tôi có gặp gia đình chồng lên côn an xã xác nhận chồng tôi không có mặt tại địa phương, khi tôi và mẹ của chồng tôi có cầm đơn xác nhận của công an xã lên tòa, nhưng ở đây tòa vẫn không chịu giải quyết để tôi được ly hôn. Thưa luật sư vậy tôi phải làm thế nào để được ly hôn đơn phương, như hoàn cảnh của tôi hiện nay phải nộp đơn ở tòa án nơi tôi sinh sống, hay nộp đơn nơi quê chồng tôi.

Tôi xin cảm ơn!

Làm thế nào để ly hôn đúng quy định của pháp luật ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về những tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án, cụ thể như sau:

"Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.

2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

5. Tranh chấp về cấp dưỡng.

6. Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

7. Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.

8. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật".

"Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này;

d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam".

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết"

"Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết".

Theo Điều 12 Luật cư trú năm 2006Luật cư trú sửa đổi, bổ sung năm 2013:

Điều 12. Nơi cư trú của công dân

"1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống"

Theo quy định trên, Bạn có thể nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn tại Tòa án nơi chồng chị cư trú, trong trường hợp không xác định được nơi chồng trị đang cư trú thì nộp đơn tại Tòa án nơi làm việc, cư trú cuối cùng của chồng chị. Như thông tin bạn cung cấp, chồng chị từ năm 2004 về quê mẹ tại Thôn 2, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, nhưng hiện tại không ở địa phương. Như vậy, bạn phải xác định nơi chồng chị đang cư trú hiện tại, hay là nơi chồng chị đang kí tạm trú, trường hợp không xác định được nơi thường trú thì xác định nơi người đó đang sinh sống. Nếu như bạn không xác định được, tức bạn không biết nơi cư trú của chồng mình thì theo Điều 36 Luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định thì có thể nộp tại Tòa án huyện Hàm Thuận Bắc, còn Tòa án huyện Ma Lâm chưa có căn cứ để xác định thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết nên Tòa án không thụ lý là đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, trong trường hợp bạn không xác định được nơi cư trú của chồng bạn, thì bạn có quyền gửi đơn đến Tòa án huyện Hàm Thuận Bắc để giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình có trả phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!