1. Có được vay ngân hàng khi không có tài sản bảo đảm?
Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng vay tài sản như sau:
- Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Như vậy, theo quy định nêu trên vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, pháp luật không bắt buộc khi vay tài sản phải có tài sản bảo đảm kèm theo nên khi không có tài sản đảm bảo vẫn được vay tiền.
Một điển hình cho việc vay tài sản là từ các tổ chức tín dụng, đặc biệt là ngân hàng. Ngân hàng chính là nơi thực hiện hoạt động luân chuyển nguồn vốn, và hoạt động tín dụng của họ mang lại lợi nhuận, song cũng đi kèm với nhiều rủi ro. Khi ngân hàng cân nhắc việc cấp tín dụng, đặc biệt là vay tiền mà không có tài sản bảo đảm, họ phải tiến hành phân tích rủi ro thông qua quy tắc 6C trong hoạt động tín dụng, được chia thành hai nhóm:
- Nhóm điều kiện cần: Điều kiện này bao gồm tư cách của người vay (Character), khả năng trả nợ của người vay (Capacity), thu nhập của người vay (Cash Flow), và các điều kiện môi trường (Conditions). Điều này đảm bảo rằng người vay có đủ điều kiện pháp lý và tài chính để đảm bảo việc trả nợ.
- Nhóm điều kiện đủ: Bao gồm tài sản bảo đảm (Collateral) và sự kiểm soát đối với người vay (Control).
Cụ thể, quy tắc 6C được hiểu như sau:
- Character (Tư cách): Đánh giá tư cách của người vay, sự trách nhiệm và ý thức hoàn trả nợ của họ. Điều này bao gồm mục đích vay và tính khả thi của dự án.
- Capacity (Năng lực): Xác nhận mức độ tin cậy và khả năng tài chính của người vay hoặc bên bảo lãnh. Điều này bao gồm việc xem xét các tài liệu pháp lý để đảm bảo năng lực pháp lý của doanh nghiệp.
- Cash Flow (Dòng tiền): Đánh giá khả năng của người vay tạo ra dòng tiền để trả nợ, thông qua doanh thu, thu nhập từ chứng khoán...
- Conditions (Điều kiện môi trường): Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ, bao gồm kết quả hoạt động, tình hình kinh doanh và nhạy cảm với các thay đổi trong môi trường kinh doanh.
- Collateral (Tài sản bảo đảm): Là điều kiện đảm bảo người vay phải cung cấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay. Điều này giống như một cam kết của người vay, trong trường hợp họ không thể trả nợ.
- Control (Kiểm soát): Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của người vay, bao gồm thay đổi luật pháp, quy định hoạt động.
Trong số các quy tắc này, quy tắc về tài sản bảo đảm thường không được coi là yếu tố quan trọng nhất, do nhiều trường hợp vay dựa trên uy tín, mối quan hệ cá nhân hoặc sự đảm bảo từ bên thứ ba hoặc cơ quan nhà nước.
2. Nâng số tiền và thời hạn vay khi không có tài sản bảo đảm
Nâng số tiền và thời hạn cho vay khi không có tài sản bảo đảm là nội dung đáng chú ý được đề cập tại Công văn 866/NHCS-TDNN ngày 22/2/2019 của Ngân hàng Chính sách Xã hội.
Theo đó, nâng mức cho vay tối đa đối với chương trình cho vay hộ nghèo từ 50 triệu đồng/hộ lên 100 triệu đồng/hộ vay không phải bảo đảm tiền vay.
Các chương trình tín dụng được Thủ tướng quy định mức cho vay tối đa không vượt quá mức cho vay tối đa áp dụng đối với hộ nghèo trong từng thời kỳ được nâng mức cho vay tối đa lên 100 triệu đồng/hộ vay không phải bảo đảm tiền vay, cụ thể:
- Chương trình cho vay hộ cận nghèo theo Quyết định 15/2013/QĐ-TTg.
- Chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo theo Quyết định 28/2015/QĐ-TTg.
- Chương trình cho vay phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định tại Quyết định 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016.
- Nâng thời hạn cho vay tối đa đối với chương trình cho vay hộ nghèo lên 120 tháng.
Nâng thời hạn cho vay tối đa đối với chương trình cho vay hộ nghèo lên 120 tháng. Theo đó, chương trình cho vay hộ cận nghèo theo Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg có thời hạn cho vay thực hiện như cho vay đối với hộ nghèo được nâng thời hạn cho vay tối đa lên 120 tháng.
Mức cho vay và thời hạn cho vay cụ thể đối với từng hộ vay được căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn tự có, khả năng trả nợ của hộ vay và nguồn vốn cho vay của NHCSXH. Trường hợp, hộ vay thuộc đối tượng của các chương trình tín dụng nêu trên đang sử dụng vốn vay có hiệu quả, thực hiện trả lãi đúng kỳ hạn theo thỏa thuận, nếu có nhu cầu vay thêm vốn để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh khả thi thì có thể vay bổ sung nhưng mức dư nợ không vượt quá 100 triệu đồng/hộ.
Đồng thời, mức cho vay và thời hạn cho vay cụ thể đối với từng hộ vay được căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn tự có, khả năng trả nợ của hộ vay và nguồn vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách Xã hội. Trường hợp, hộ vay thuộc đối tượng của các chương trình tín dụng nêu trên đang sử dụng vốn vay có hiệu quả, thực hiện trả lãi đúng kỳ hạn theo thỏa thuận, nếu có nhu cầu vay thêm vốn để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh khả thi thì có thể vay bổ sung nhưng mức dư nợ không vượt quá 100 triệu đồng/hộ.
3. Nguyên nhân các ngân hàng thương mại gặp nhiều khó khăn trong xử lý tài sản bảo đảm nợ vay?
Trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm nợ vay, các Ngân hàng thương mại gặp phải nhiều thách thức, với nguyên nhân chính xuất phát từ các vấn đề sau đây:
Một là, sự phối hợp của khách hàng khi thực hiện bàn giao tài sản trên thực tế và thực hiện thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật hiện hành để xử lý TSBĐ. Vấn đề này thực sự rắc rối nếu quá trình thẩm định của cán bộ tín dụng không tiến hành một cách kỹ lưỡng dẫn đến các vấn đề phát sinh khi xử lý tài sản, chẳng hạn như khi thẩm định tài sản, cán bộ tín dụng ngân hàng không điều tra xem cá nhân nào đang sinh sống tại nơi có TSBĐ, mối quan hệ với bên vay vốn như thế nào.
Hai là, việc áp dụng các quy định pháp luật và sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan như phòng công chứng, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, và ủy ban nhân dân các cấp cũng gặp khó khăn. Thiếu đồng bộ trong việc giải quyết các thủ tục, cũng như "đùn đẩy" trách nhiệm giữa các bên, dẫn đến hệ lụy xấu và làm chậm trễ quá trình xử lý tài sản bảo đảm nợ vay.
Thứ ba, trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm, khi bất động sản được chuyển nhượng bằng cách bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản hoặc thông qua việc bán đấu giá, việc thực hiện các thủ tục công chứng hợp đồng mua bán thường gặp phải nhiều khó khăn. Một số phòng công chứng yêu cầu thông báo giải chấp từ bên nhận bảo đảm, trong khi một số khác lại yêu cầu thực hiện thủ tục xóa đăng ký giao dịch bảo đảm tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Điều này làm tăng thêm sự phức tạp và chi phí trong quá trình xử lý.
Xem thêm: Vay tiền ngân hàng không có khả năng chi trả thì có phải ngồi tù không?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nâng số tiền và thời hạn vay khi không có tài sản bảo đảm của Bộ Y tế mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!