Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900.6162

Chào luật sư. Thưa luật sư, hiện nay tôi đang có một vấn đề chưa rõ hướng giải quyết và muốn nhờ luật sư tư vấn giúp:

Tôi và vợ kết hôn năm 2019. Đến năm 2020, vợ tôi được mẹ đẻ tặng cho một phần đất có diện tích 500m vuông. Ngay sau khi hoàn tất thủ tục tặng cho và sang tên cho phần đất đó xong, vợ tôi đã tự ý cầm sổ đỏ của phần đất đó để đi vay ngân hàng mà không hề hỏi qua tôi lần nào. Tôi cảm thấy như vậy không đúng vì phần đất kia vợ tôi có được trong thời kỳ hôn nhân của chúng tôi, thì đó phải là tài sản chung của hai vợ chồng và mọi giao dịch liên quan đến tài sản đó đều phải thông qua ý kiến của cả hai. Tôi có nói với vợ về vấn đề này nhưng vợ tôi đã hoàn tất thủ tục vay thế chấp với bên ngân hàng. Liệu tôi có thể yêu cầu hủy giao dịch đó vì chưa có sự đồng ý và chữ ký của tôi không? 

Rất mong được luật sư tư vấn, giải đáp cụ thể. Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

_ Bộ luật dân sự năm 2015

_ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

_ Luật Công chứng năm 2014

_ Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình

2. Luật sư tư vấn:

1. Thế nào là vay thế chấp ngân hàng?

1.1. Khái niệm về vay thế chấp 

Vay thế chấp là một hình thức khá phổ biến trong xã hội hiện nay. Xét về mặt ngữ nghĩa, thực chất vay thế chấp ngân hàng là việc người đi vay sẽ dùng một tài sản tương ứng với khoản mà mình muốn vay để đưa cho ngân hàng giữ, làm tài sản đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của bạn. Trong thực tế, khi các bên có nghĩa vụ đối vởi nhau thường áp dụng một biện pháp nào đó để bảo đảm quyền lợi cho người có quyền. Thế chấp tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định theo đó, các bên trong quan hệ nghĩa vụ lựa chọn sử dụng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ. Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định cụ thể: "Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)".

Như vậy, việc vay thế chấp ngân hàng được hiểu là việc bên đi vay sẽ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đi vay một khoản tiền nhất định. Tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đi vay trong thời hạn đang dùng để thế chấp

1.2. Hình thức cho vay thế chấp

Khi đi vay ngân hàng có tài sản đảm bảo, bên đi vay sẽ được ngân hàng hướng dẫn cụ thể về các thủ tục vay thế chấp. Trong đó, các bên sẽ có với nhau một hợp đồng vay thế chấp và hợp đồng này nếu có tài sản đảm bảo là bất động sản thì bắt buộc phải được công chứng, chứng thực theo quy định của Luật công chứng năm 2014

2. Vợ chồng có cần hỏi ý kiến nhau khi vay thế chấp ngân hàng?

Sẽ tùy vào từng trường hợp để xác định xem vợ hoặc chồng có cần thiết phải thỏa thuận với nhau trước khi làm thủ tục vay thế chấp ngân hàng hay không. Yếu tố để xác định vấn đề này chính là đối tượng của thế chấp hay còn gọi là tài sản mà bên đi vay dùng để đi vay ngân hàng thuộc tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Vấn đề về tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng được quy định rất cụ thể tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Trong tình huống trên, căn cứ vào các thông tin bạn đưa ra là năm 2019 hai vợ chồng bạn kết hôn và năm 2020, vợ bạn được đứng tên một mảnh đất do mẹ đẻ tặng cho riêng. Như vậy theo quy định của pháp luật thì mảnh đất đó đương nhiên là tài sản riêng của vợ bạn, trừ trường hợp hai vợ chồng có thỏa thuận rằng đó là tài sản chung của vợ chồng.

Vấn đề của bạn là bạn đang nhầm tưởng phần đất đó là tài sản của cả vợ bạn và bạn vì nó có được trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, không phải bất kỳ tài sản nào sinh ra trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung được. Trong tình huống trên thì mảnh đất đó là do mẹ vợ bạn đã tặng riêng cho vợ bạn, nếu hai vợ chồng bạn không có thỏa thuận gì về chuyển mảnh đất đó thành tài sản chung của vợ chồng thì mặc nhiên mảnh đất đó thuộc về riêng vợ bạn mà thôi. Lúc này, mọi giao dịch liên quan đến mảnh đất đó sẽ do vợ bạn quyết định mà không cần phải thông qua ý kiến của bạn nữa

Cũng như trên thì việc vợ bạn tự mang sổ đỏ của mảnh đất đo đi làm tài sản thế chấp cho ngân hàng để vay tiền thì cũng hoàn toàn hợp pháp mà không cần hỏi đến ý kiến hay chữ ký của bạn. 

3. Vợ không có đủ khả năng trả nợ ngân hàng thì chồng có phải trả không? 

Đây là một vấn đề cũng khá phổ biến trong giao dịch vay ngân hàng. Rất nhiều cặp vợ chồng trong đó vợ hoặc chồng tự đi giao dịch vay vốn với ngân hàng xong đến một thời gian nào đó, không còn đủ khả năng để trả nợ nữa thì thực tế thường thấy người còn lại sẽ tiếp tục tìm cách để trả nốt khoản vay đó. Nhưng theo quy định của pháp luật, mặc dù vợ chồng có trách nhiệm liên đới với nhau nhưng việc trả nợ cho vợ hoặc chồng đi vay ngân hàng hi không còn đủ khả năng đều có những điều kiện cụ thể. Không phải khoản vay nào cũng sẽ do người còn lại chịu trách nhiệm phải trả mà sẽ do đối tượng khác chi trả. Theo đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau:

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

Theo quy định trên, để xác định xem chồng hoặc vợ có trách nhiệm phải trả nợ cho người còn lại không cần phải căn cứ vào các yếu tố: số tiền vay sử dụng vào mục đích gì? giao dịch đó có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng không?

Như vậy, nếu như vợ dùng số tiền vay được của ngân hàng để sử dụng vào mục đích riêng, đáp ứng nhu cầu cá nhân của riêng người vợ như mua sắm quần áo, thiết bị cá nhân, chăm sóc cá nhân... bất kỳ mục đích gì liên quan đến cá nhân của người vợ thôi thì lúc này, người chồng không có trách nhiệm trả nợ cho vợ. 

Trường hợp vợ bạn dùng tiền vay được để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cả gia đình như ăn, ở, mặc, nhu cầu giáo dục, chăm sóc con cái... hay thuộc các trường hợp khác quy định ở trên, thì lúc này, khi vợ bạn không còn khả năng trả nợ, bạn phải có trách nhiệm nốt số nợ còn lại của vợ bạn. 

Ngoài ra pháp luật cũng quy định về vấn đề đại diện của vợ chồng. Theo quy định tại điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt. Sự ủy quyền này phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Như vậy, nếu có căn cứ để xác định việc mượn tiền là không được xác lập trên quan hệ đại diện vợ chồng thì khoản vay được coi là vay riêng, chồng không có nghĩa vụ trả nợ

Bên cạnh đó, cũng cần căn cứ thêm vào sự thảo thuận riêng của vợ chồng. Giả sử trong trường hợp vợ bạn vay tiền ngân hàng để kinh doanh, việc kinh doanh là gián tiếp đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì theo quy định ở trên, vợ chồng bạn sẽ có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ này. Nhưng nếu trước đó hai vợ chồng có thỏa thuận riêng rằng ai sẽ chịu trách nhiệm trả nợ thì người được quy định trong thỏa thuận đó sẽ có trách nhiệm trả nợ mà không phụ thuộc vào các yếu tố căn bản khác. Cần lưu ý, thỏa thuận này không được trái với pháp luật. 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê