1. Người chết có phải chịu trách nhiệm hình sự ?

Thưa luật sư Minh Khuê, tôi muốn hỏi : Một người sắp bị khởi tố về tội tham nhũng (chưa bị bắt tạm giam). Nhưng trước khi bị khởi tố thì người đó đã tự tử và đã chết. Như vậy người đã chết có phải chịu trách nhiệm hình sự nữa không ?
Xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định tại khoản 7 Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì khi người phạm tội đã chết thì không được khởi tố vụ án hình sự. Cụ thể:

Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

6. Tội phạm đã được đại xá;

7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

>> Xem thêm:  Thủ tục bàn giao xe ô tô cho nhân viên là lái xe ? Trách nhiệm lái xe khi xảy ra tai nạn giao thông

Thưa Luật sư, Ngày hôm qua, con tôi có đi chơi gần khu vực ao nhà chùa, cách nhà chừng 500 mét, con tôi không biết bơi, chừng một tiếng sau thì có người đến báo với gia đình là cháu bị ngụp ở dưới sông, và bảo với gia đình là có nhiều người ở đó rồi.

Nhưng khi vợ chồng chúng tôi đến thì cháu đã bị trôi nổi ở mặt sông và có rất nhiều người đứng xem và không ai vớt xác của cháu lên, gia đình tôi phải vớt xác của cháu lên khi cháu đã chết, tôi cảm thấy rất bất bình khi có rát nhiều người ở đó mà tại sao không ai cứu con tôi, con tôi năm nay mới học lớp 2. Lúc đó tôi thấy có công an phường, có người làm trong ngành y, và có nhiều người nữa, hiện tại tôi rất bức xúc và Luật sư cho tôi hỏi tôi có thể làm đơn tố cáo những đối tượng này lên cơ quan công an được hay không?

Mong Luật sư tư vấn cho tôi. Cám ơn Luật sư.

Luật sư tư vấn:

Trường hợp của bạn như bạn có trình bày thì con bạn bị chết đuối vì cháu còn nhỏ và không biết bơi, tại ao mà con bạn bị chết đuối thì trước lúc mất thì có rất nhiều người đứng ở đó, có rất nhiều người đến xem nhưng không ai cứu giúp cháu cả, như bạn có trình bày ở trên thì có công an phường, và cũng có những người làm trong ngành y tế nhưng cũng đều không ai đến cứu con bạn. Khiến cháu bị mất do chết đuối.

Về hành vi này, tại Điều 132 Bộ Luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng có quy định như sau:

Điều 132. Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

1. Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;

b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.

3. Phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được quy định tại Điều 132 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017. Tội này có hình phạt thấp nhất là phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm, tùy theo mức độ, tính chất của hành vi. Không cứu giúp người khác bị nạn là hành vi cần phải lên án.

Tuy nhiên, để xem xét trách nhiệm hình sự của người này thì cần rất thận trọng xem xét nhiều yếu tố cần thiết. Trước hết hành vi này phải là cố ý không cứu người. Theo quy định tại Điều 132 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cố ý không cứu người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là hành vi thấy người đang ở trong tình trạng sắp chết, tuy có điều kiện cứu mà không cứu dẫn đến người đó bị chết.

Ở đây cũng cần lưu ý "có điều kiện cứu" không chỉ là có khả năng mà phải là có điều kiện hoàn toàn có thể cứu người được. Ngoài ra, phải xảy ra hậu quả chết người và hậu quả chết người là do bị bỏ mặc không cứu giúp thì "người có điều kiện mà không cứu giúp" đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc không cứu giúp người bị nạn là rất đáng phê phán, tuy nhiên để xem xét họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không thì phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và cơ bản là phải đáp ứng những yếu tố cấu thành nêu trên.

Trường hợp này, hành vi của những người như trên rất khó để có thể xác định được yếu tố cấu thành tội phạm bởi hành vi của họ, việc bạn muốn tố cáo những người này bạn cần phải có đủ những căn cứ để có thể làm hồ sơ gửi lên cơ quan công an điều tra hình sự, cụ thể, bạn phải có những căn cứ nổi bật lên việc họ có đủ điều kiện cứu nhưng không cứu, cụ thể bạn phải có những căn cứ chứng minh là họ biết bơi, họ có đủ điều kiện về thể chất và tinh thần, họ không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự......a những mất m.sau khi có đầy đủ những căn cứ để chứng minh, bạn hoàn toàn có thể làm đơn trình báo lên cơ quan công an điều tra hình sự cấp quận/ huyện nơi bạn đang cư trú để cơ quan công an điều tra có thể điều tra và làm rõ vấn đề này cho bạn, buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu như họ có đủ điều kiện mà không cứu giúp con bạn để xáy ra những mất mát không nhỏ cho gia đình.

>> Xem thêm:  Lỗi tai nạn giao thông chết người có bị khởi tố hoặc phải đền bù thế nào ?

3. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ được quy định tại điều 127 luật hình sự năm 2015:

Điều 127 luật hình sự năm 2015 quy định:

Điều 127. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

1. Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

PHÂN TÍCH TỘI DANH LÀM CHẾT NGƯỜI KHI THI HÀNH CÔNG VỤ:

Điều 127 Bộ luật hình sư như sau: Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. 2. Phạm tội làm chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Điều 127 Bộ luật hình sư như sau: Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. 2. Phạm tội làm chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Làm chết người trong khi thi hành công vụ là hành vi của người trong quá trình thực hiện công vụ của mình đã làm cho người khác bị chết do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép. Tội phạm trực tiếp xâm phạm quyền sống của con người.

Tội phạm được thể hiện ở hành vi làm chết người do họ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép. Dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất tác động vào thân thể người khác làm cho họ chết hoặc bị thương. Các hình thức dùng vũ lực như dùng vũ khí hoặc tay chân đấm, đá… Các loại vũ khí bao gồm: súng, đạn, lựu đạn, bom, mìn, thuốc nổ, lê, dao găm, mã tấu và các vũ khí thô sơ khác được giao cho người có quyền sử dụng để thực hiện công vụ.

Dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép tức là trái với quy định của pháp luật. Ví dụ như: cán bộ, chiến sĩ cảnh sát nhân dân chỉ được dùng vũ lực khi bị người có hành vi phạm tội chống cự, ngăn cản hoặc để bắt giữ người có hành vi hung hãn chống đối hoặc chạy trốn khi áp giải. Chỉ được nổ súng vào các đối tượng cụ thể khi đã hô hoặc nổ súng cảnh báo mà đối tượng đó không tuân lệnh, trừ các trường hợp cấp bách không có biện pháp nào khác để ngăn chặn ngay đối tượng đang thực hiện hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng hoặc để thực hiện quyền tự vệ chính đáng theo quy định. Các đối tượng nêu trên bao gồm:

- Những kẻ đang dùng vũ lực gây bạo loạn, đang phá hoại, đang hành hung cán bộ, chiến sĩ bảo vệ, đang tấn công đối tượng hoặc mục tiêu bảo vệ;

- Những kẻ đang phá trại giam, cướp phạm nhân; những phạm nhân đang nổi loạn, cướp vũ khí hoặc dùng vũ lực uy hiếp tính mạng cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ quản lý, canh gác, dẫn giải tội phạm; những kẻ phạm tội nguy hiểm đang bị giam giữ, đang bị dẫn giải, hoặc đang có lệnh bắt giữ mà chạy trốn;

- Những kẻ không tuân lệnh của cán bộ, chiến sĩ đang tiến hành tuần tra, canh gác, khám xét, lại dùng vũ lực chống lại, uy hiếp nghiêm trọng tính mạng cán bộ thừa hành nhiệm vụ hoặc tính mạng của nhân dân; - Bọn lưu manh, côn đồ đang giết người, hiếp dâm, gây rối trật tự rất nghiêm trọng, đang dung vũ lực cướp phá tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công dân;

- Người điều khiển phương tiện không tuân lệnh, cố tình chạy trốn khi người kiểm soát phương tiện giao thông vận tải ra lệnh và đã biết ró trên phương tiện đó có vũ khí hoặc có tài liệu phản động, có tài liệu bí mật quốc gia, có tài sản đặc biệt quý giá của Nhà nước hoặc có bọn tội phạm lưu manh côn đồ đang sử dụng phương tiện để chạy trốn thì đối với trường hợp này được phép bắn hỏng phương tiện để bắt giữ đối tượng. Như vây, ngoài các trường hợp nói trên, hành vi dùng vũ lực gây chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tội xâm phạm tính mạng của người khác trong khi thi hành công vụ là tội phạm có cấu thành vật chất nên phải xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra.

Tội phạm làm chết người khi thi hành công vụ: là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi theo luật định. Họ là những người đang thi hành công vụ nói chung, đó là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, những công dân được huy động làm nhiệm vụ như: tuần tra, canh gác, bảo vệ theo kế hoạch của các cơ quan có thẩm quyền hoặc công dân, vì lợi ích chung của xã hội mà sử dụng một loại công vụ nào đó để giúp sức người thi hành công vụ ngăn chặn hoặc đuổi bắt người phạm tội, do đó xâm phạm tính mạng của người khác thì cũng được coi là người thi hành công vụ.

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý gián tiếp. Động cơ phạm tội là hành động vì lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Hình phạt của tội làm chết người khi thi hành công vụ:

- Khung 1: quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm áp dụng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 của điều 157 của Bộ luật hình sự.

- Khung 2: quy định hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm áp dụng đối với trường hợp làm chết nhiều người (từ hai người trở lên) hoặc trong trường hợp nghiêm trọng khác.

- Hình phạt bổ sung: người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến lăm năm.

Lưu ý khác:

- Trong trường hợp đang thi hành công vụ, lại coi thường tính mạng của người khác, sử dụng súng vô nguyên tắc bắn chết người thì dù là người đang thi hành công vụ vẫn phạm tội giết người theo điều 93 của Bộ luật hình sự.

- Người đang thực hiện công vụ có hành vi làm chết người nhưng nạn nhân không liên quan trực tiếp đến công vụ của họ thì không phạm tội làm chết người trong khi thi hành công vụ mà có thể bị kết án về tội giết người.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự

>> Xem thêm:  Mẫu đơn thông báo và yêu cầu bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông

4. Hỏi về tình tiết tăng nặng đối với việc vô ý làm chết trẻ em ?

Xin chào Luật Minh Khuê! Mong Luật sư tư vấn cho tôi về vấn đề: tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội vô ý làm chết người là trẻ em ?
Cảm ơn!

Trả lời:

4.1 Yếu tố cấu thành tội vô ý làm chết người là gì ?

Vô ý làm chết người được hiểu là hành vi nguy hiểm được thực hiện vì quá tự tin hoặc vì cẩu thả đã gây hậu quả làm chết người khác (tuy không mong muốn hậu quả xảy ra).
Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
Về hành vi: Có hành vi nguy hiểm cho xã hội là nguyên nhân trực tiếp gây chết người khác mặc dù bản thân họ không muốn.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội nêu trên là hành vi vi phạm các quy tắc thông thường trong cuộc sống hành ngày (không phải quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính) nhằm đảm bảo an toàn thông tính mạng, sức khỏe, tài sản của chính người có hành vi đó và của người khác.
Về hậu quả: Hậu quả chết người là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này (mặc dù người có hành vi nêu trên không mong muốn hậu quả xảy ra).
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến tính mạng của người khác.
Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả.
Vô ý vì quá tự tin: Trường hợp này người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến hậu quả chết người nhưng lại chủ quan (tự tin) cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
Vô ý vì cầu thả: Trường hợp này người phạm tội không thấy trước được hành vi của mình có thể gây chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Chủ thể: Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt của tội vô ý làm chết người: Mức phạt của tội phạm này được chia làm 02 khung, cụ thể như sau:
Khung một (khoản 1): Có mức phạt cải tạp không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khung hai (khoản 2): Có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

4.2 Trách nhiệm bồi thường đối với bị hại là như thế nào?

Theo Bộ Luật dân sự 2015 thì Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm;Chi phí hợp lý cho việc mai táng;Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;Thiệt hại khác...

Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm:Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...
Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.
Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng: Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng; Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng; Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hạimột khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

4.3 Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là như thế nào?

Theo bộ luật hình sự hiện hành thì tình tiết tăng nặng bao gồm: Phạm tội có tổ chức;Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;Phạm tội có tính chất côn đồ;Phạm tội vì động cơ đê hèn;Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;Phạm tội 02 lần trở lên;Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

4.4 Tình tiết tăng nặng phạm tội với trẻ em là như thế nào?

Về tình tiết "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" thì chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được hay không nhận biết được người bị xâm hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già.
Trẻ em được xác định là người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.Phụ nữ có thai" được xác định bằng cách chứng cứ chứng minh là người phụ nữ đó đang mang thai, như: bị cáo và mọi người đều nhìn thấy được hoặc bị cáo nghe được, biết được từ các nguồn thông tin khác nhau về người phụ nữ đó đang mang thai. Trong trường hợp thực tế khó nhận biết được người phụ nữ đó đang mang thai hay không hoặc giữa lời khai của bị cáo và người bị hại về việc này có mâu thuẫn với nhau thì để xác định người phụ nữ đó có thai hay không phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế hoặc kết luận giám định. Người già được xác định là người từ 70 tuổi trở lên.

>> Xem thêm:  Thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn thì xử lý như thế nào?

5. Vi phạm quy tắc khám chữa bệnh gây chết người ?

Thưa Luật sư! Tôi có câu hỏi xin được tư vấn như sau: Tôi có người thân mới đi phẫu thuật đường ruột ở bệnh viện tỉnh. Trước khi phẫu thuật sức khỏe vẫn bình thường, nhưng sau khi mổ được 7 ngày thì có hiện tượng đau, bụng to dần lên.

Gia đình có thông báo lại với bác sĩ, bác sĩ chỉ sờ vào bụng, phát thuốc rồi thôi. Qua hôm sau, vẫn không ngớt, bụng ngày càng to hơn, gia đình thấy vậy xin bệnh viện chuyển lên tuyến trên nhưng bệnh viện lại không chịu, bảo rằng không sao và sẽ theo dõi. Gia đình lo lắng nên đã yêu cầu chuyển viện nhiều lần. Bệnh viện trả lời: Bệnh viện không làm giấy chuyển viện mà chỉ làm giấy xuất viện cho gia đình tự đi. Sau khi chuyển lên bệnh viện chợ Rẫy được khoảng 10 tiếng thì bệnh nhân mất.

Vậy Luật sư cho tôi hỏi: Bệnh viện tỉnh có phải chịu trách nhiệm không? Nếu có gia đình tôi cần phải làm gì? Xin cảm ơn!

Người gửi: Nam

Trả lời:

Theo như bạn trình bày, trong trường hơp này bác sĩ trực tiếp điều trị cho bệnh nhân có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp thep quy định tại Điều 129 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều 129. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

1. Người nào vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp có các dấu hiệu như sau:

- Có hành vi vi phạm quy tắc nghề nghiệp ( quy tắc nghề nghiệp là những quy tắc thuộc phạm vi một ngành, lĩnh vực,…do Nhà nước, Bộ, ngành quy định để đảm bảo an toàn cho mọi người);

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đó và hậu quả chết người;

- Lỗi vô ý do cẩu thả hoặc quá tự tin;

Do vậy bạn cần làm rõ:

Về hành vi: sau khi mổ bệnh nhân đã bị nhiễm trùng, do vậy bạn cần chứng minh rất có thể trong quá trình mổ bác sĩ đã không vệ sinh dụng cụ mổ, không thực hiện đúng các kỹ thuật mổ. Hơn nữa, khi thấy bệnh nhân bụng có biểu hiện to ra, bác sĩ chỉ khám qua loa, thể hiện sự tác trách trong khám chữa bệnh.

Hành vi vi phạm của Bác sĩ chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết của bệnh nhân: Bác sĩ mổ làm cho bệnh nhân bị nhiễm trùng và khi bệnh nhân đã bị nhiễm trùng nặng, do quá tự tin vào khả năng của mình nên gây ra khó khăn khi người nhà xin chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Sự chậm trễ đó đã làm bệnh nhân không được cứu chữa kịp thời.

Lỗi của bác sĩ là vô ý do cẩu thả và quá tự tin.

Khi có đầy đủ các căn cứ xác định ba yếu tố trên, bạn có thể làm đơn gửi đến Cơ quan Công an chính quyền địa phương đề nghị cơ quan Công an điều tra, xác minh làm rõ vụ việc kèm theo những chứng cứ bạn có. Dựa trên kết quả xác minh, giám q uyết định khởi tố đối định cụ thể về nguyên nhân cái chết của nạn nhân cũng như những người có liên quan thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố đối với các bị can theo quy định tại điều 154 BLTTHS 2015.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Ngộ sát có phải chịu tội?