1. Toà án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm và thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm

Toà án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm là toà án cấp frên trực tiếp của toà án cấp sơ thẩm (Xem: Khoản 1 Điều 330 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ, toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Toà án nhân dân cấp tỉnh xét xử phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm của toà án nhân dân cấp huyện; toà án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của toà án nhân dân cấp tỉnh; toà án quân sự cấp quân khu xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của toà án quân sự khu vực; toà án quân sự trung ương xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của toà án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán, không có sự tham gia của hội thẩm. Địa vị toà án cấp trên trực tiếp với thành phần hội đồng xét xử chỉ gồm những người xét xử chuyên nghiệp là những yếu tố pháp lí góp phần bảo đảm cho toà án cấp phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ xét xử lại vụ án, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm (Điều 254, Điều 344 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

2. Phạm vi xét xử phúc thẩm

Về nguyên tắc, toà án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, toà án cấp phúc thẩm cũng có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị. Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét nếu thấy cần thiết. Để bảo đảm sự công bằng và nhân đạo, toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét phàn bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị nếu có điểm cần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo ((Điều 345 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

3. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm

- Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm (Điều 346 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 60 ngày đối với toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án quân sự cấp quân khu, 90 ngày đối với toà án nhân dân cấp cao, Toà án quân sự trung ương, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Thời hạn nổi trên gồm thời hạn ra quyết định cần thiết và thời hạn mở phiên toà. Thời hạn thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm hoặc đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là 45 ngày đối với toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với toà án nhân dân cấp cao, Toà án quân sự trung ương, kể từ ngày thụ lí vụ án. Thời hạn toà án mở phiên toà phúc thẩm là 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

- Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm hoặc đưa vụ án ra xét xử + Đình chỉ xét xử phúc thẩm (Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) Do kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm

quyền của toà án cấp phúc thẩm nên việc rút kháng cáo, kháng nghị có hậu quả đình chỉ xét xử phúc thẩm. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, thẩm phán chủ toạ phiên toà có thể quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với vụ án hoặc đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo, kháng nghị đã rút.

Thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với vụ án trong trường họp khi chuẩn bị xét xử, người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị. Thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo, kháng nghị đã rút trong trường hợp khi chuẩn bị xét xử, người kháng cáo rút một phần kháng cáo, viện kiểm sát rút một phần kháng nghị mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác.

Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm ghi rõ lí do đình chỉ và các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định, toà án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm cho viện kiểm sát cùng cấp, toà án đã xét xử sơ thẩm, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

+ Đưa vụ án ra xét xử phúc thẳm (Điều 346 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử trong trường hợp có thể tiến hành xét xử và không có lí do đình chỉ xét xử phúc thẩm. Quyết định đưa vụ án ra xét xử ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; tên toà án ra quyết định; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà; xét xử công khai hay xét xử kín; tội danh và hình phạt mà toà án cấp sơ thẩm đã quyết định; họ tên người kháng cáo, người bị kháng cáo, người bị kháng nghị; viện kiểm sát kháng nghị; họ tên kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên toà; họ tên kiểm sát viên dự khuyết (nếu có); họ tên thẩm phán, thư kí toà án; họ tên thẩm phán dự khuyết, thư kí toà án dự khuyết (nếu có); họ tên người bào chữa (nếu có); họ tên người phiên dịch (nếu có); họ tên những người khác được triệu tập đến phiên toà (Xem: Khoản 2 Điệu 255 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên toà, toà án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị (Xem: Khoản 4 Điều 346 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

4. Áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế (Điều 347 Bộ luật tố tụng hình sự).

Đối với biện pháp tạm giam, thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ trước khi mở phiên toà thuộc về chánh án, phó chánh án toà án, tại phiên toà thuộc về hội đồng xét xử phúc thẩm. Toà án cấp phúc thẩm có thể áp dụng biện pháp tạm giam để chuẩn bị xét xử, để hoàn thành việc xét xử, để bảo đảm thi hành án và để bảo đảm cho viện kiểm sát, toà án cấp sơ thẩm thụ lí lại vụ án. Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Trường hợp còn thời hạn tạm giam mà xét thấy cần tiếp tục tạm giam thì toà án cấp phúc thẩm sử dụng thời hạn tạm giam theo quyết định tạm giam của toà án cấp sơ thẩm. Trường hợp đã hết thời hạn tạm giam theo quyết định tạm giam của toà án cấp sơ thẩm thì toà án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm giam mới. Đối với bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên toà. Đối với bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên toà thời hạn tạm giam đã hết thì hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo, thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án. Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi viện kiểm sát hoặc toà án cấp sơ thẩm thụ lí lại vụ án.

Đối với các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế khác như bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh, áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong toả tài khoản, thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ trước khi mở phiên toà thuộc về thẩm phán chủ toạ phiên toà, tại phiên toà thuộc về hội đồng xét xử phúc thẩm.

4. Sự có mặt của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng

- Sự có mặt của thành viên hội đồng xét xử phúc thẩm và thư kí toà án (Điều 349 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Phiên toà phúc thẩm chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên hội đồng xét xử và thư kí toà án. Theo nguyên tắc xét xử liên tục, các thành viên hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà. Trường hợp có thẩm phán không tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có thẩm phán dự khuyết tham gia phiên toà từ đầu thì người này được thay thế làm thành viên hội đồng xét xử. Trường hợp thẩm phán chủ toạ phiên toà không tiếp tục tham gia xét xử được thì thẩm phán là thành viên hội đồng xét xử làm chù toạ phiên toà và thâm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên hội đồng xét xử.

- Sự có mặt của kiểm sát viên (Điều 350 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp với toà án cấp phúc thẩm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà. Vì vậy, sự có mặt của kiểm sát viên tại phiên toà là bắt buộc. Vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều kiểm sát viên. Trường hợp kiểm sát viên không thể có mặt tại phiên toà, bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tiến hành tố tụng thì kiểm sát viên dự khuyết có mặt tại phiên toà từ đầu được thay thế để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên toà.

- Sự có mặt của những người khác (Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị được triệu tập thì phải có mặt tại phiên toà.

Sự có mặt của người bào chữa tại phiên toà phúc thẩm vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của họ. Toà án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử trong trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan nhưng bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa; người bào chữa vắng mặt không vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; người bào chữa chỉ định vắng mặt nhưng bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa.

Người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị là bị hại, đương sự và người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự vắng mặt không vì lí do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì toà án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử. Trong trường hợp những người này vắng mặt vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì toà án cấp phúc thẩm vẫn có thể tiến hành xét xử nhung không được ra bản án, quyết định không có lợi cho bị hại, đương sự.

Bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, bị kháng nghị nếu vắng mặt vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì toà án cấp phúc thẩm có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án, quyết định không có lợi cho bị cáo. Nếu sự vắng mặt của bị cáo vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà không gây trở ngại cho việc xét xử thì toà án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử.

Sự tham gia phiên toà của những người khác (người không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch) do toà án cấp phúc thẩm quyết định khi xét thấy cần thiết (Xem: Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự).

6. Tạm ngừng phiên toà, hoãn phiên toà phúc thẩm

Toà án cấp phúc thẩm có thể tạm ngừng phiên toà hoặc hoãn phiên toà phúc thẩm. Thời hạn tạm ngừng phiên toà không quá 5 ngày kể từ ngày quyết định tạm ngừng phiên toà. Thời hạn hoãn phiên toà không quá 30 ngày kể từ ngày quyết định hoãn phiên toà. Khi hết thời hạn tạm ngừng phiên toà, việc xét xử phúc thẩm vụ án được tiếp tục. Đe tiết kiệm thời gian giải quyết vụ án, toà án cần xem xét khả năng tạm ngừng phiên toà, nếu không thể tạm ngừng phiên toà mới quyết định hoãn phiên toà (Điều 251, Điều 352 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Toà án cấp phúc thẩm tạm ngừng phiên toà trong trường hợp cần xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên toà nhưng có thể thực hiện được trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày tạm ngừng phiên toà. Nếu việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật không thể thực hiện được trong thời hạn nói trên thì hoãn phiên toà.

Toà án cấp phúc thẩm tạm ngừng phiên toà trong trường hợp do tình trạng sức khoẻ, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên toà nhưng họ có thể tham gia lại phiên toà trong thời gian 05 ngày kể từ ngày tạm ngừng phiên toà. Nếu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên toà trong thời hạn nói trên thì hoãn phiên toà. Toà án vẫn có thể xét xử nếu có thẩm phán hoặc kiểm sát viên dự khuyết. Trường hợp thư kí toà án bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có người thay thế thì toà án tạm ngừng phiên toà. Toà án vẫn có thể xét xử nếu có thư kí toà án dự khuyết.

Toà án cấp phúc thẩm hoãn phiên toà trong trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan, người bào chữa chỉ định vắng mặt mà bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo không đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa; người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị là bị hại, đương sự và người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự vắng mặt vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà toà án cấp phúc thẩm phải ra bản án, quyết định không có lợi cho bị hại, đương sự; bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, bị kháng nghị vắng mặt vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà toà án cấp phúc thẩm phải ra bản án, quyết định không có lợi cho bị cáo (Xem: Các điều 251, 349, 350, 351, 352 Bộ luật tố tụng hình sự).

7. Bổ sung, xem xét chứng cứ, tài liệu, đồ vật

Với tư cách là cấp xét xử thứ hai, xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, toà án cấp phúc thẩm phải tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới và xem xét cùng với chứng cứ cũ để quyết định giữ nguyên, sửa hoặc huỷ bản án, quyết định sơ thẩm. Việc bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật có thể được thực hiện trước khi xét xử hoặc tại phiên toà phúc thẩm. Viện kiểm sát có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của toà án bổ sung chứng cứ mới. Trường họp toà án đã yêu cầu viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng viện kiểm sát không bổ sung được thì toà án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án. Toà án tiến hành xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ bằng các hoạt động: tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên toà; xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản ngoài các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, cần định giá tài sản quy định tại Điều 206 và Điều 215 Bộ luật tố tụng hình sự; trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại; yêu cầu định giá lại tài sản.

Người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự cũng có quyền bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật. Ngay sau khi nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp, toà án phải chuyển cho viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, viện kiểm sát phải xem xét và chuyển lại cho toà án để đưa vào hồ sơ vụ án. Chứng cứ cũ, chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật mới bổ sung đều phải được xem xét tại phiên toà phúc thẩm. Bản án phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới (Xem: Các điều 252, 253, 353 Bộ luật tố tụng hình sự và (Điều 353 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)).

8. Những quy định chung khác

- Bản án phúc thẩm (Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015):

Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản án phải có chữ kí của tất cả thành viên hội đồng xét xử.

Bản án phúc thẩm phải ghi rõ tên toà án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lí vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên hội đồng xét xử, thư kí toà án, kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo, bị kháng nghị và những bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng toà án cấp phúc thẩm có xem xét; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người giám định, người phiên dịch và những người khác được toà án triệu tập tham gia phiên toà; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú, địa chỉ của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; tên của viện kiểm sát có kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử; tóm tắt nội dung vụ án, quyết định trong bản án sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của hội đồng xét xử phúc thẩm, những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị; điểm, khoản, điều của BLHS và của văn bản quy phạm pháp luật khác mà hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án; quyết định của hội đồng xét xử phúc thẩm về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng nghị, về án phí sơ thẩm, phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.(Xem: Khoản 2 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự)

Gửi, thông báo bản án, quyết định phúc thẩm (Điều 262 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015): Toà án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc thẩm cho viện kiểm sát cùng cấp; cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án nơi đã xét xử sơ thẩm; trại tạm giam, trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện của họ; cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập của bị cáo. Việc gửi, thông báo bản án, quyết định phúc thẩm phải được thực hiện trong 10 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc ra quyết định. Trường hợp toà án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 25 ngày.

- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm (Điều 266 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015): Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; bổ sung chứng cứ mới; bổ sung, thay đổi kháng nghị; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị; xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ; phát biểu quan điểm của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên toà, phiên họp; tranh luận với bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên toà; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Ngoài ra, việc giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm còn phải tuân theo các quy định chung khác tại Chương XX (những quy định chung) của Bộ luật tố tụng hình sự.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật hình sự, luật tố tụng hình sự - Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê