1. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục

Theo quy định tại điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Việc xét xử phải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói, tức là các thành viên hội đồng xét xử phải tự mình xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, người khác tham gia phiên toà được toà án triệu tập; xem xét, kiểm tra tài liệu chứng cứ đã được thu thập; công bố biên bản, tài liệu và tiến hành hoạt động tố tụng khác để kiểm tra chứng cứ; nghe ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.

Việc xét xử phải được tiến hành liên tục để bảo đảm cho hội đồng xét xử tập trung vào việc xét xử vụ án và những người tham dự dễ theo dõi việc xét xử. Việc xét xử liên tục còn đảm bảo cho hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng dễ nhớ được tình tiết của vụ án, giải quyết dứt điểm từng vụ. Nói chung, việc xét xử phải được tiến hành liên tục từ khi khai mạc phiên toà cho đến khi kết thúc phiên toà trừ giờ nghỉ và thời gian tạm ngừng phiên toà. Hội đồng xét xử phải xử xong vụ án này mới được xử vụ án khác.

2. Tạm ngừng phiên toà

Tạm ngừng phiên toà là việc hội đồng xét xử quyết định tạm dừng phiên toà trong một thời gian khi có các căn cứ theo quy định của pháp luật. Điều 251 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định việc tạm ngừng phiên toà. Việc xét xử có thể tạm ngừng khi thuộc một trong các trường hợp:

- Cần phải xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên toà và có thể thực hiện được trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày tạm ngừng phiên toà;

- Do tình trạng sức khoẻ, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên toà nhưng họ có thể tham gia lại phiên toà trong thời gian 05 ngày kể từ ngày tạm ngừng phiên toà;

- Vắng mặt thư kí toà án tại phiên toà.

Việc tạm ngừng phiên toà phải được ghi vào biên bản phiên toà và thông báo cho những người tham gia tố tụng biết. Thời hạn tạm ngừng phiên toà không quá 05 ngày kể từ ngày quyết định tạm ngừng phiên toà. Hết thời hạn tạm ngừng phiên toà, việc xét xử vụ án được tiếp tục. Trường hợp không thể tiếp tục xét xử vụ án thì phải hoãn phiên toà.

3. Toà án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ; tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án

Để giải quyết đúng đắn vụ án hỉnh sự trên cơ sở xác định sự thật khách quan của vụ án, Điều 252, Điều 253 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định, toà án tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ bằng các hoạt động: tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên toà; xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản ngoài các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, cần định giá tài sản quy định tại Điều 206 và Điều 215 của Bộ luật TTHS; trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại; yêu cầu định giá lại tài sản. Trường hợp toà án đã yêu cầu viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng viện kiểm sát không bổ sung được thì toà án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.

Cùng với hoạt động tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án, toà án còn tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án. Cụ thể: khi cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thi thẩm phán chủ toạ phiên toà phải tiếp nhận và có thể hỏi người đã cung cấp về những vấn đề có liên quan đến chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó. Việc tiếp nhận được lập biên bản. Ngay sau khi nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thỉ toà án phải chuyển cho viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, viện kiểm sát phải xem xét và chuyển lại cho toà án để đưa vào hồ sơ vụ án.

4. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm

Điều 254 BLTTHS năm 2015, quy định thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có một thẩm phán và hai hội thẩm. Trong trường họp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm. Đối với vụ án có bị cáo mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là chung thân, tử hình thì hội đồng xét xử gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm.

Nếu người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi thì thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm phải có một hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lí người dưới 18 tuổi. Các thành viên của hội đồng xét xử phải tham gia xét xử vụ án từ khi khai mạc phiên toà cho đến khi kết thúc. Thẩm phán chủ toạ phiên toà là người điều khiển việc xét xử tại phiên toà và giữ trật tự phiên toà.

Trong quá trình xét xử, nếu có thẩm phán hoặc hội thẩm không tiếp tục tham gia xét xử được thì toà án vẫn có thể xét xử vụ án, nếu có thẩm phán hoặc hội thẩm dự khuyết. Thẩm phán hoặc hội thẩm dự khuyết phải có mặt tại phiên toà từ đầu thì mới được tham gia xét xử. Trường hợp hội đồng xét xử có hai thẩm phán mà thẩm phán chủ toạ phiên toà không tiếp tục tham gia xét xử được thì thẩm phán là thành viên của hội đồng xét xử làm chủ toạ phiên toà và thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên hội đồng xét xử. Trong trường hợp không có thẩm phán, hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ toạ phiên toà thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu. Quy định trên vừa đảm bảo việc xét xử trực tiếp vừa đảm bảo thành phần của hội đồng xét xử nhằm giải quyết vụ án được chính xác, khách quan.

5. Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Điều 255 BLTTHS năm 2015, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, sau khi nghiên cứu hồ so, thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử khi có đủ chứng cứ xác định rõ những vấn đề càn phải chứng minh. Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm ghi rõ:

- Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên toà án ra quyết định; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà;

- Xét xử công khai hay xét xử kín;

- Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị cáo;

- Tội danh và điểm, khoản, điều của BLHS mà viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo;

- Họ tên thẩm phán, hội thẩm, thư kí toà án; họ tên thẩm phán dự khuyết, hội thẩm dự khuyết, thư kí toà án dự khuyết (nếu có);

- Họ tên kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên toà; họ tên kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);

- Họ tên người bào chữa (nếu có);

- Họ tên người phiên dịch (nếu có);

- Họ tên những người khác được triệu tập đến phiên toà;

- Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên toà.

6. Nội quy phiên toà

Điều 256 BLTTHS năm 2015 quy định để giữ trật tự phiên toà, trước khi khai mạc phiên toà, thư kí toà án phải phổ biến nội quy phiên toà. Nội quy phiên toà bao gồm một số điểm chủ yếu sau:

- Mọi người vào phòng xử án phải mặc trang phục nghiêm túc, chấp hành việc kiểm tra an ninh và thực hiện đúng hướng dẫn của thư kí toà án.

- Mọi người ưong phòng xử án phải tôn trọng hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều hành của chủ toạ phiên toà.

- Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án. BỊ cáo phải đứng khi kiểm sát viên công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố. Người được toà án triệu tập đến phiên toà muốn trình bày ý kiến phải được chủ toạ phiên toà đồng ý; người trình bày ý kiến phải đứng khi trình bày ý kiến, khi được hỏi.

Những người vì lí do sức khoẻ có thể được chủ toạ phiên toà cho phép ngồi.

- Tại phiên toà, bị cáo đang bị tạm giam chỉ được tiếp xúc với người bào chữa cho mình. Việc tiếp xúc với những người khác phải được chủ toạ phiên toà cho phép.

- Người dưới 16 tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được toà án triệu tập đến phiên toà.

7. Phòng xử án

Theo quy định điều 257 BLTTHS năm 2015 về phòng xử án hình sự là không gian tổ chức xét xử vụ án hình sự... của toà án và phải được bố trí theo nguyên tắc sau. (Xem: Thông tư của Toà án nhân dân tối cao số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 quy định về phòng xử án):

- Phòng xử án phải được bố trí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn.

- Phòng xử án phải được bố trí bảo đảm trật tự phiên toà.

- Việc bố trí phòng xử án phải thể hiện vị trí, vai trò, trung tâm của hội đồng xét xử; bảo đảm quyền bình đẳng trước toà án; bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đưomg sự.

- Việc bố trí phòng xử án phải phù hợp với yêu cầu xét xử từng loại án... nhằm bảo đảm chất lượng, hiệu quả xét xử của toà án.

- Đối với các vụ án thuộc thẩm quyền của toà gia đình và người chưa thành niên, phòng xử án phải được bố trí thân thiện, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi.

về hình thức, phòng xử án phải được bố trí Quốc huy của nước cộng hoà XHCN Việt Nam trên nền ốp gỗ ở chính giữa, phía sau và ở trên vị trí của hội đồng xét xử, thẩm phán chủ toạ phiên toà... Phòng xử án được bố trí hai bục, trừ phòng xử án thuộc thẩm quyền của toà gia đình và người chưa thành niên. Vị trí của hội đồng xét xử, thẩm phán chủ toạ phiên toà ở trên bục cao nhất; bục thứ hai là vị trí của những người tiến hành tố tụng khác, người tham gia tố tụng và người tham dự phiên toà. Phòng xử án phải bảo đảm không gian để tiến hành phiên toà, phiên họp và hàng rào ngăn cách giữa khu vực của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng với khu vực của người tham dự phiên toà, phiên họp; phải bố trí lối đi riêng của hội đồng xét xử, thẩm phán chủ toạ phiên toà, chủ trì phiên họp; lối đi của những người tiến hành tố tụng khác, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên toà, phiên họp; tường trong phòng xử án có nền màu vàng.

Phòng xử án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của toà gia đình và người chưa thành niên khác với phòng xử án đối với người thành niên như sau: Vị trí của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên toà, phiên họp trong phòng xử án được bố trí trên cùng một mặt phẳng, sắp xếp theo hình thức bàn tròn; tường trong phòng xử án có màu xanh; người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng tại phiên toà được ngồi cạnh người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; bàn, ghế trong phòng xử án được thiết kế theo kiểu dáng bàn, ghế văn phòng.

Quy định về phòng xử án là một trong những điểm mới của BLTTHS năm 2015. Trên cơ sở hướng dẫn của Thông tư số 01/2017 TT-TANDTC ngày 28/7/2017 quy định về phòng xử án thi phòng xử án hình sự được thiết kế theo sơ đồ sau:

Việc thiết kế không gian tĩnh phòng xử án mà ở đó hội đồng xét xử ngồi trên bục cao nhất, chính giữa phía dưới Quốc huy thể hiện sự uy nghiêm của toà án trong việc thực hiện chức năng xét xử, luật sư và viện kiểm sát ngồi ngang nhau thể hiện sự bình đẳng trong việc thực hiện chức năng buộc tội và và chức năng gồ tội, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và chủ trương cải cách tư pháp.

8. Biên bản phiên toà

Tại phiên toà, trong quá trình xét xử, thư kí toà án có nhiệm vụ ghi mọi diễn biến ở phiên toà từ khi bắt đầu cho đến khi tuyên án vào biên bản phiên toà theo quy định của Điều 258 BLTTHS năm 2015.

Biên bản phiên toà phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà và mọi diễn biến tại phiên toà từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà. Cùng với việc ghi biên bản, có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh về diễn biến phiên toà. Các câu hỏi, câu trả lời, lời trình bày và quyết định tại phiên toà đều được ghi vào biên bản. Ngay sau khi kết thúc phiên toà, chủ toạ phiên toà phải kiểm tra biên bản và cùng với thư kí toà án kí vào biên bản đó. Sau khi chủ toạ phiên toà và thư kí toà án kí vào biên bản phiên toà, kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cùa bị hại, đương sự hoặc đại diện của những người đó được xem biên bản phiên toà. Nếu có người yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà thì thư kí toà án phải ghi sửa đổi, bổ sung đó vào biên bản phiên toà. Không được tẩy xoá, sửa chữa trực tiếp mà phải ghi sửa đổi, bổ sung tiếp vào cuối biên bản phiên toà và cùng chủ toạ phiên toà kí xác nhận; nếu chủ toạ phiên toà không chấp nhận yêu cầu thì phải nêu rõ lí do và ghi vào biên bản phiên toà.

9. Biên bản nghị án

Theo quy định tại điều 259 BLTTHS năm 2015 khi nghị án phải lập biên bản. Biên bản nghị án phải được tất cả thành viên hội đồng xét xử kí tại phòng nghị án trước khi tuyên án.

Biên bản nghị án của hội đồng xét xử sơ thẩm phải ghi rõ:

- Giờ, ngày, tháng, năm ra biên bản; tên toà án xét xử;

- Họ tên thẩm phán, hội thẩm;

>> Xem thêm:  Quy định mới nhất về bảo vệ người làm chứng trong vụ án hình sự ?

- Vụ án được đưa ra xét xử;

- Kết quả biểu quyết của hội đồng xét xử về từng vấn đề đã thảo luận quy định tại khoản 3 Điều 326 của BLTTHS, ý kiến khác (nếu có).

10. Bản án

Theo điều 260 BLTTHS năm 2015 thì bản án là văn bản tố tụng đặc trưng của giai đoạn xét xử vụ án hình sự được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án quyết định việc bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và biện pháp tư pháp. Theo quy định tại Điều 260 BLTTHS 2015 thì toà án ra bản án nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản án phải có chữ kí của tất cả thành viên hội đông xét xử.

Bản án sơ thẩm phải ghi rõ:

- Tên toà án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lí vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên hội đồng xét xử, thư kí toà án, kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật và những người khác được toà án triệu tập tham gia phiên toà; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;

- Số, ngày, tháng, năm của bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố; tên viện kiểm sát truy tố; hành vi của bị cáo theo tội danh mà viện kiểm sát truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của BLHS và mức hình phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lí vật chứng;

- Ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được toà án triệu tập;

- Nhận định của hội đồng xét xử phải phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có tội hay không và nếu bị cáo có tội thì là tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS và của vãn bản quy phạm pháp luật khác được áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lí như thế nào. Nếu bị cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật;

- Phân tích lí do mà hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng có buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra;

>> Xem thêm:  Những trường hợp nào phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát giải quyết ?

- Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;

- Quyết định của hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án. Trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì ghi rõ quyết định đó.

11. Sửa chữa, bổ sung bản án

Theo điều 261 BLTTHS năm 2015 về nguyên tắc, bản án phải bảo đảm chính xác và có sức thuyết phục, không được sửa chữa, bổ sung bản án trừ trường hợp phát hiện có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai. Việc sửa chữa, bổ sung bản án không được làm thay đổi bản chất vụ án hoặc bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Việc sửa chữa, bổ sung bản án được thể hiện bằng văn bản và giao ngay cho những người được quy định tại Điều 262 BLTTHS.

Việc sửa chữa, bổ sung bản án do thẩm phán chủ toạ phiên toà đã ra bản án, quyết định thực hiện. Trường hợp thẩm phán chủ toạ phiên toà không thể thực hiện được thì việc sửa chữa, bổ sung bản án do chánh án toà án đã xét xử vụ án đó thực hiện.

12. Giao, gửi bản án

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, đồng thời đề cao hơn nữa trách nhiệm của toà án trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, BLTTHS quy định: Sau khi tuyên án, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, bị hại, viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; gửi bản án cho bị cáo bị xét xử vắng mặt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của BLTTHS, viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan điều tra cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, trại tạm giam, trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo làm việc, học tập; cấp bản sao bản án hoặc trích lục bản án về những phần có liên quan cho đương sự hoặc người đại diện của họ.

Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 290 BLTTHS thì trong thời hạn nêu trên, bản án phải được niêm yết tại trụ sở uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị cáo.

Toà án cấp sơ thẩm gửi bản án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án sơ thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

13. Phiên dịch tại phiên toà

>> Xem thêm:  Quy định mới về kháng nghị theo thủ tục tái thẩm ? Xét xử theo thủ tục tái thẩm vụ án hình sự ?

Trường hợp bị cáo, bị hại, đương sự, người làm chứng không biết tiếng Việt, là người câm, người điếc thì người phiên dịch phải dịch cho họ nghe, hiểu lời trình bày, các câu hỏi, câu trả lời tại phiên toà, nội dung quyết định của hội đồng xét xử và các vấn đề khác có liên quan đến họ.

Người phiên dịch phải dịch lời trình bày, câu hỏi, câu trả lời của những người nêu trên ra tiếng Việt cho hội đồng xét xử và người khác tham gia phiên toà cùng nghe.

14. Kiến nghị sửa chữa thiếu sót cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản pháp luật

Cùng với việc ra bản án, toà án ra kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp cần thiết để khắc phục nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm tại các cơ quan, tổ chức đó. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của toà án, cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị phải thông báo bằng văn bản cho toà án biết về những biện pháp được áp dụng. Kiến nghị của toà án có thể được đọc tại phiên toà cùng với bản án hoặc chỉ gửi riêng cho cơ quan, tổ chức hữu quan.

Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, toà án phát hiện và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết cùa Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc xem xét, trả lời toà án về kết quả xử lí văn bản pháp luật bị kiến nghị được thực hiện theo quy định của pháp luật.

15. Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

Thực hành quyền công tố là chức năng đặc trưng của viện kiểm sát trong tố tụng hình sự. Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẳm, viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn sau (Điều 266 BLTTHS năm 2015):

- Trước khi tiến hành xét hỏi, kiểm sát viên công bố cáo trạng hoặc công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên toà; bổ sung làm rõ thêm nội dung bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn (nếu CÓA Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo;

- Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;

+ Để việc tham gia xét hỏi tại phiên toà có hiệu quả, trước khi tham gia phiên toà, kiểm sát viên phải chuẩn bị đề cương xét hỏi, dự kiến các vấn đề cần làm sáng tỏ, những vấn đề mà người bào chữa quan tâm, dự kiến các tình huống khác có thể phát sinh tại phiên toà để tham gia xét hỏi nhằm xác định sự thật của vụ án và các tình tiết khác có liên quan đến việc định tội và đề nghị mức hình phạt. Kiểm sát viên cần chú ý xác định mâu thuẫn về chứng cứ trong vụ án và dự kiến phương pháp xét hỏi nhằm giải quyết mâu thuẫn, bác bỏ những lời chối tội không có cơ sở, đồng thời chuẩn bị các câu hỏi để làm rõ những vấn đề mà người bào chữa quan tâm.

>> Xem thêm:  Những quy định mới nhất về thi hành bản án, quyết định của tòa án hình sự ?

Tại phiên toà, kiểm sát viên theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi của hội đồng xét xử, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác và ý kiến trả lời của người được xét hỏi, chủ động tham gia xét hỏi theo sự điều hành của chủ tọa phiên toà để xác định sự thật khách quan của vụ án, làm sáng tỏ hành vi phạm tội, tội danh, vai trò, vị trí của từng bị cáo, trách nhiệm dân sự, xử lid vật chứng, biện pháp tư pháp. Khi xét hỏi, kiểm sát viên đặt câu hỏi khách quan, rõ ràng, dễ hiểu, tránh giải thích, kết luận ngay (Điều 24 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyét định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 960/QĐ-VKSNDTC ngày 17/9/2007).

+ Khi có người tham gia tố tụng xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới tại phiên toà, kiểm sát viên cần kiểm tra và xét hỏi về nguồn gốc, nội dung chứng cứ tài liệu đồ vật đó để kết luận về tính hợp pháp, tính khách quan và liên quan của chứng cứ, tài liệu, đồ vật.

Trường hợp chưa đủ căn cứ để kết luận chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới đó có thể làm thay đổi nội dung, bản chất vụ án thì kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử hoãn phiên toà để xác minh.

- Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hon; phát biểu quan điểm của viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên toà;

- Kháng nghị bản án, quyết định của toà án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của BLTTHS.

16. Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử

Kiểm sát xét xử vụ án hình sự là hoạt động của viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xét xử vụ án hình sự. Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất tham gia tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự. Cũng như các giai đoạn khác, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, khi kiểm sát xét xử, viện kiểm sát có các nhiệm vụ, quyền hạn sau (Điều 267 BLTTHS năm 2015):

- Viện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự của toà án.

Trước khi mở phiên toà, kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa phiên toà, hội đồng xét xử về việc: thực hiện các yêu cầu cung cấp, bổ sung chửng cứ; triệu tập người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; thay đổi thành viên hội đồng xét xử, thư kí toà án; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; xét xử theo thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín; thông báo cho những người tham gia tố tụng biết thời gian, địa điểm xét xử và các hoạt động tố tụng khác.

>> Xem thêm:  Khái niệm, nhiệm vụ, ý nghĩa của xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ?

Tại phiên toà, kiểm sát viên phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử, thư kí toà án... từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên toà, bảo đảm việc xét xử được công minh, đúng pháp luật.

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lí nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.

- Kiểm sát bản án, quyết định, văn bản tố tụng khác của toà án.

- Yêu cầu toà án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị.

- Kiến nghị, yêu cầu toà án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; kiến nghị toà án khắc phục vi phạm trong hoạt động tố tụng.

- Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lí.

- Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, nhiệm vụ, quyền hạn khác khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về các nguyên tắc chung xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đối tượng, chủ thể và phạm vi của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự ?

>> Xem thêm:  Trình tự phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm tiến hành như thế nào ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thủ tục xét xử sở thẩm bao gồm gì ?

Trả lời:

Thủ tục xét xử sơ thẩm bắt đầu khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang. Trình tự xét xử tại phiên tòa bao gồm:

Khai mạc

Xét hỏi

Tranh luận trước tòa

Nghị án và tuyên án.

Quá trình xét xử được thực hiện theo nguyên tắc xét xử trực tiếp bằng lời nói và liên tục, chỉ xét xử những bị cáo, những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã có quyết định đưa ra xét xử.

Khi kết thúc hội đồng xét xử ra bản án hoặc các quyết định.

Câu hỏi: Khởi tố vụ án hình sự là gì ?

Trả lời:

"Khởi tố” vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng hình sự. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn này được bắt đầu kể từ khi các cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo hoặc tố giác về tội phạm và kết thúc khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Câu hỏi: Căn cứ dấu hiệu tội phạm được xác định như thế nào?

Trả lời:

Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ sau:

Tố giác của cá nhân

Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

Tin báo của phương tiện thông tin đại chúng;

Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

Người phạm tội tự thú.