1. Quản trị tài sản sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp

Cũng như nhiều lĩnh vực khác, hoạt động quản trị tài sản trí tuệ là một trong những nội dung mà các doanh nghiệp cần hết sức quan tâm, nhất là trong điều kiện nền kinh tế tri thức và hội nhập sâu rộng như hiện nay.Doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ khi tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thì ít hay nhiều đều liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Trước tiên là tên thương mại – được hình thành và bảo hộ khi doanh nghiệp sử dụng thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà không cần đăng ký bảo hộ

Tiếp đến là bí mật kinh doanh (bí quyết kỹ thuật và bí mật thương mại) hầu như doanh nghiệp nào cũng có, vấn đề là các thông tin đó có được bảo mật bằng các biện pháp hữu hiệu hay không để được hưởng quyền sở hữu công nghiệp theo Luật Sở hữu trí tuệ. Với các đối tượng khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu thì doanh nghiệp phải đăng ký với nhà nước và đáp ứng được các tiêu chí thì mới được bảo hộ. Rõ ràng việc đầu tư để tạo dựng, đăng ký, sử dụng, phát triển và bảo vệ các tài sản trí tuệ (hay còn được gọi là quản trị) là hết sức cần thiết đối với bất cứ một doanh nghiệp nào, nhất là khi các tài sản trí tuệ ngày càng trở lên quan trọng đối với mỗi nền kinh tế và doanh nghiệp trong xu thế hội nhập sâu rộng như hiện nay.

Vậy, việc quản trị các tài sản trí tuệ được thực hiện như thế nào, làm cách nào để có hiệu quả nhất giúp nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là những nội dung mà doanh nghiệp cần lưu tâm.

Việc đầu tiên của quản trị tài sản trí tuệ mà doanh nghiệp cần làm, đó là thống kê, đánh giá và phân loại các tài sản trí tuệ hiện có trong doanh nghiệp. Việc thống kế các tài sản trí tuệ cần được thực hiện dựa theo bản chất và quy định của pháp luật đối với từng đối tượng. Nếu tài sản trí tuệ là các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp thì có thể thuộc một trong hai loại sau: loại thứ nhất gồm các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp được xác lập không cần đăng ký, như tên thương mại, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng; loại thứ hai gồm các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp chỉ được xác lập thông qua đăng ký sáng chế, đăng ký kiểu dáng công nghiệp và đăng ký nhãn hiệu.

Với tên thương mại và bí mật kinh doanh thì doanh nghiệp phải xem xét hiện trạng pháp lý của các đối tượng đó có thỏa mãn các tiêu chuẩn bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ không. Cụ thể là, xem tên thương mại hiện có của doanh nghiệp có đáp ứng được tính phân biệt giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực, địa bàn kinh doanh và đã được sử dụng trên thực tế chưa. Khi thỏa mãn các điều kiện trên thì tên thương mại của doanh nghiệp sẽ được nhà nước bảo hộ. Còn với bí mật kinh doanh thì xem các thông tin liên quan đến bí quyết kỹ thuật (các know-how) hay bí mật về thương mại (phương án sản xuất, kinh doanh, danh sách khách hàng…) hiện có của doanh nghiệp có được bảo mật không. Nếu các thông tin đó đã và đang được doanh nghiệp bảo mật thì sẽ được nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

Với các đối tượng sở hữu công nghiệp mà quyền được xác lập thông qua đăng ký như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu… thì doanh nghiệp cần xác định xem thực trạng các đối tượng đó ra sao, hiện doanh nghiệp có bao nhiêu sáng chế, sáng chế nào đã đăng ký và được cấp bằng độc quyền, sáng chế nào chưa đăng ký. Tương tự như vậy, cũng xác định xem doanh nghiệp có bao nhiêu nhãn hiệu, bao nhiêu kiểu dáng công nghiệp, cái nào đã đăng ký và cái nào chưa đăng ký.

Tiếp theo việc thống kê, đánh giá các đối tượng, doanh nghiệp cần thực hiện việc đăng ký các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu mà doanh nghiệp chưa đăng ký. Về nguyên tắc, nhà nước chỉ cấp một văn bằng bảo hộ cho sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu nào thỏa mãn tiêu chuẩn bảo hộ nhưng nộp đơn sớm nhất (kể cả đơn của người nước ngoài). Vì vậy khi thực hiện đăng ký, doanh nghiệp cần phải đánh giá khả năng bảo hộ từng đối tượng. Nếu đăng ký sáng chế, thì phải xem các sáng chế đó còn mới không (chưa bộc lộ ở đâu cả), có trình độ sáng tạo không (so với trình độ hiện tại đã biết thì sáng chế đó có bước tiến mới về mặt công nghệ không) và sáng chế có khả năng áp dụng không (tính khả thi). Với kiểu dáng công nghiệp cũng tương tự như sáng chế. Còn đối với nhãn hiệu, thì có phải là những dấu hiệu (chữ, hình, hay kết hợp cả hai) do doanh nghiệp tự đặt, tự thiết kế ra chứ không phải đi sao chép, đánh cắp của người khác và các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác. Để đánh giá về tính mới của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay khả năng phân biệt của nhãn hiệu, doanh nghiệp có thể thực hiện việc tra cứu các thông tin liên quan tại kho dữ liệu do Cục Sở hữu trí tuệ lưu giữ, trên internet… hoặc nhờ các chuyên gia giúp đỡ. Khi các thông tin liên quan có cơ sở khẳng định rằng các đối tượng trên có khả năng bảo hộ cao thì doanh nghiệp hãy tiến hành đăng ký và đăng ký càng nhanh càng tốt để dành ngày sớm nhất (ngày ưu tiên); còn nếu các thông tin cho thấy khả năng đăng ký là bất lợi vì khó lòng được bảo hộ thì không nên đăng ký vì chỉ thêm tốn tiền và mất thời gian mà thôi.

Khi các đối tượng sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp đã được nhà nước bảo hộ (được cấp bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hay có được tên thương mại, bí mật kinh doanh đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ) thì doanh nghiệp phải tổ chức việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các đối tượng đó nhằm bù đắp những chi phí nghiên cứu, đăng ký và quan trọng là tạo ra lợi nhuận do cơ chế độc quyền mang lại. Nếu chỉ đăng ký mà không sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả thì việc đăng ký các đối tượng sở hữu công nghiệp trở nên vô nghĩa, thậm chí còn lãng phí và tốn kém không đáng có. Việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có thể do chính doanh nghiệp thực hiện hoặc ủy quyền cho doanh nghiệp khác tiến hành dưới hình thức li-xăng (bán quyền sử dụng) nhưng phải thông qua hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng li-xăng). Ví dụ chủ sở hữu sáng chế “Lon có khuyên kéo” bán quyền sử dụng (li-xăng) cho CocaCola với giá 148.000 bảng Anh/mỗi ngày. Nếu việc sử dụng không có hiệu quả thì doanh nghiệp có thể tiến hành bán đứt (chuyển giao quyền sở hữu) để bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra, như nhãn hiệu P/S đã được chủ sở hữu bán với giá 5 triệu USD (năm 1986). Tiếp đến, doanh nghiệp cần chủ động và phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chống lại những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của mình, nhằm bảo vệ quyền đối với các tài sản trí tuệ được nhà nước bảo hộ.

Để thực hiện các nội dung nhằm quản trị tốt các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp được nêu trên đây, doanh nghiệp có thể tự làm trên cơ sở tổ chức bộ phận (hoặc chuyên gia) chuyên trách về sở hữu trí tuệ nhằm chủ động quản trị, hoặc doanh nghiệp có thể thuê các văn phòng luật sư (hoặc luật sư) thực hiện việc quản trị thông qua hợp đồng thuê quản trị tài sản trí tuệ mà nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã triển khai có hiệu quả.

(MKLAW FIRM: Biên tập)

2. Cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ (SHTT) là một trong những lĩnh vực được các Thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hết sức quan tâm. Những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPS) là một trong những nội dung lớn trong những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO.

Trong những năm đầu gia nhập WTO, quyền SHTT của Việt Nam sẽ là vấn đề có ảnh hưởng rõ nét nhất đến hoạt động kinh doanh, thương mại do những tác động trực tiếp từ các nguyên tắc, yêu cầu thực thi “luật” của WTO. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPS) - WTO buộc VN phải đạt được hai chuẩn mực lớn về nội dung bảo hộ (tính đầy đủ) và về hiệu lực thực thi pháp luật (tính hiệu quả) của hệ thống SHTT. Do đó, việc thực thi tốt quyền SHTT là một trong những đòi hỏi hàng đầu của WTO.

1. Về bản quyền tác giả:

Từ năm 2005, Việt Nam đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ. Vấn đề bản quyền tác giả đã được quy định và áp dụng theo Luật SHTT 2005 và Bộ Luật Dân sự 2005. Theo đó, quyền tác giả đối với những tác phẩm gốc được bảo hộ không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng của tác phẩm. Trong quá trình đàm phán, trả lời câu hỏi liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia, đại diện của Việt Nam nói rằng, Luật SHTT năm 2005 bảo đảm thực hiện điều 3 của Hiệp định TRIPS và điều 3 của Công ước Berne. Theo điều 13 của Luật SHTT công dân của nước thành viên Công ước Berne hoặc WTO sẽ được bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam.

Trong quá trình đàm phán, một số Thành viên có ý kiến cho rằng họ thấy một số cơ quan của Chính phủ Việt Nam sử dụng phần mềm máy tính mà chưa được phép của chủ sở hữu. Họ cũng lưu ý rằng một cơ quan của Chính phủ Việt Nam và một doanh nghiệp Nhà nước đang cung cấp truyền hình cáp không có bản quyền cho khách hàng Việt Nam. Những Thành viên này đề nghị Việt Nam chấm dứt tình trạng này trong quá trình đàm phán gia nhập WTO và thực thi nghĩa vụ theo Hiệp định TRIPS. Đại diện Việt Nam xác nhận rằng, trước ngày gia nhập, Việt Nam sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu các cơ quan của Chính phủ chỉ sử dụng các phần mềm máy tính hợp pháp và không vi phạm quyền tác của những phần mềm này; quy định việc mua và quản lý tất cả phần mềm do các cơ quan của Chính phủ sử dụng; ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định việc các nhà cung cấp truyền hình cáp chỉ được cung cấp các chương trình đã có phép đến khách hàng của họ.

Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ?

Luật sư tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Gọi: 0986.386.648


Về thù lao, nhuận bút, các tổ chức, cá nhân sử dụng các tác phẩm đã được công bố hoặc bản ghi âm/ghi hình để thực hiện chương trình phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của Chính phủ. Việt Nam lưu ý rằng các tổ chức phát sóng ở Việt Nam do Nhà nước quản lý, hoạt động bằng ngân sách nhà nước, vì vậy chỉ những trường hợp có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào mới phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc khi bị xâm hại có quyền yêu cầu tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm hoặc khởi kiện ra toà án có thẩm quyền hoặc thông qua trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Người xâm phạm có thể bị phạt đến 200 triệu đồng hoặc bị phạt tù đến 3 năm.

2. Về nhãn hiệu, bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ:

Nhãn hiệu được bảo hộ theo quy định tại các điều từ 750 -753 của Bộ Luật Dân sự 2005 và Phần III của Luật SHTT năm 2005. Không có yêu cầu bắt buộc đăng ký nhãn hiệu đối với bất kỳ hàng hóa và dịch vụ nào. Tất cả các đăng ký nhãn hiệu đều được công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp. Việt Nam đã xác nhận rằng trong quá trình soạn thảo Luật SHTT, Việt Nam đã tham khảo các quy định của Khuyến nghị chung liên quan đến các quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng do Hội đồng Liên hiệp Pari và Đại hội đồng của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) thông qua vào tháng 9/1999. Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với Hiệp định TRIPS và khoản 1 Điều 6 bis Công ước Pari.

3. Về chỉ dẫn địa lý, bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa:

Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo quy định tại các điều từ 750-753 của Bộ Luật Dân sự năm 2005 và Phần III của Luật SHTT năm 2005. Việt Nam lưu ý một chỉ dẫn địa lý sẽ không được bảo hộ nếu đã trở thành tên gọi chung ở Việt Nam. Chỉ dẫn địa lý nước ngoài được bảo hộ ở nước xuất xứ mới có thể được bảo hộ ở Việt Nam. Bất kỳ chủ thể nào có quyền, theo luật pháp của nước ngoài, sở hữu, sử dụng hoặc nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý ở nước xuất xứ đều có quyền nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý đó tại Việt Nam và có thể được ghi nhận trong Đăng bạ chỉ dẫn địa lý Việt Nam. Đại diện Việt Nam cho rằng Luật SHTT năm 2005 đã bảo hộ các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam và nước ngoài phù hợp với Hiệp định TRIPS. Theo đó, các quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là Thành viên sẽ được áp dụng trong trường hợp có xung đột.

4. Kiểu dáng công nghiệp:

Pháp luật hiện hành của VN phù hợp với các yêu cầu của Điều 26.1 Hiệp định TRIPS. VN lưu ý, mặc dù các quy định liên quan không được diễn đạt giống hệt như lời văn của Hiệp định TRIPS nhưng các quy định của các Điều 123.1(a), 124.2 và 126.1 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cũng đã bao hàm việc sản xuất, bán hoặc nhập khẩu sản phẩm mang kiểu dáng “về cơ bản là bản sao” của kiểu dáng được bảo hộ. Thời hạn bảo hộ ban đầu đối với kiểu dáng công nghiệp là 5 năm tính từ ngày nộp đơn-có hiệu lực từ ngày đăng ký - và có thể được gia hạn 2 lần liên tiếp, mỗi lần 5 năm.

5. Sáng chế:

Sáng chế có tính mới đối với thế giới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp được bảo hộ theo quy định tại các Điều từ 750 đến 753 của Bộ Luật Dân sự năm 2005 và Phần III của Luật SHTT năm 2005. Đặc biệt, đối tượng không phải bảo hộ theo Hiệp định TRIPS vẫn được bảo hộ tại VN. Sáng chế có tính mới đối với thế giới, và có khả năng áp dụng công nghiệp - thậm chí không có trình độ sáng tạo nhưng không phải là hiểu biết thông thường - có thể được bảo hộ theo Bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Chủ sở hữu Bằng độc quyền sáng chế hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích có độc quyền sử dụng, chuyển giao quyền sở hữu, và chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác. Chủ sở hữu có quyền yêu cầu người khác chấm dứt hành vi xâm phạm và có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra. Thời hạn hiệu lực của những Bằng độc quyền sáng chế và Bằng độc quyền giải pháp hữu ích tương ứng là 20 và 10 năm tính từ ngày nộp đơn - có hiệu lực từ ngày cấp.

6. Bảo hộ giống cây trồng:

Các quy định về bảo hộ giống cây trồng mới theo các tiêu chuẩn của UPOV. Các điều kiện bảo hộ được áp dụng cho giống cây trồng theo quy định tại các Điều từ 158 đến 162 của Luật SHTT năm 2005 hoàn toàn tương thích với các điều kiện bảo hộ quy định tại các Điều từ 5 đến 9 của UPOV, bao gồm tính mới, tính khách biệt, tính đồng nhất và tính ổn định. Thời hạn bảo hộ quyền của người tạo giống là 25 năm đối với cây thân gỗ và cây nho và 20 năm đối với các giống cây trồng khác kể từ ngày các quyền được xác lập. Không mở rộng quyền của người tạo giống đối với sản phẩm thu hoạch hoặc sản phẩm được sản xuất trực tiếp từ sản phẩm thu hoạch được từ việc sử dụng trái phép vật liệu nhân giống của giống cây được bảo hộ.

7. Thiết kế bố trí mạch tích hợp:

Đại diện VN khẳng định thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được bảo hộ theo các Điều 4.4, 6.3 (a) và Phần III của Luật SHTT 2005.
8. Các yêu cầu đối với thông tin bí mật, bao gồm bí mật thương mại và dữ liệu thử nghiệm:
Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định mà không phải đăng ký. Chủ sở hữu bí mật kinh doanh có quyền cấm việc sử dụng trái phép bí mật kinh doanh của mình và yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra lệnh chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại.
Đại diện VN xác nhận rằng Chính phủ VN sẽ tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết nhằm tuân thủ đầy đủ tất cả các quy định của Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT kể từ ngày gia nhập WTO mà không viện dẫn đến bất kỳ thời hạn chuyển tiếp nào.

Tình hình thực thi quyền SHTT ở Việt Nam

Hệ thống pháp luật về SHTT của Việt Nam đã tương đối hoàn chỉnh, nội dung đã tiệm cận dần đến các nguyên tắc và quy định của WTO, WIPO...
Hiện nay, VN đã là thành viên của các Điều ước quan trọng như Công ước Paris, Thoả ước Madrid, Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá, Hiệp ước hợp tác Patent, Công ước Berne về bản quyền...và đặc biệt là Hiệp định Trips. Ngoài ra, các Điều ước quốc tế đa phương và song phương liên quan đến việc khiếu nại, xét xử, trọng tài, thi hành bản án, quyết định, tương trợ tư pháp... giữa VN và các nước là những cơ sở quan trọng trong công tác thực thi quyền SHTT ở VN.

Tuy nhiên, hiện nay, VN chưa có Toà án, cơ quan thực thi chuyên trách quyền SHTT, chưa có được các thẩm phán, công chức thực thi, xử lý chuyên trách các tội phạm, hành vi xâm phạm quyền SHTT... Bên cạnh đó, nhận thức của chính cộng đồng doanh nghiệp đối với vấn đề SHTT nói chung, thực thi quyền SHTT nói riêng mặc dù đã được cải thiện nhưng còn thấp. Theo thống kê của Cục SHTT Việt Nam, số lượng doanh nghiệp VN nộp đơn xác lập các quyền SHTT chiếm tỷ lệ thấp so với doanh nghiệp nước ngoài. Đơn đăng ký sáng chế chỉ là 9,24%, giải pháp hữu ích là 60,13%, kiểu dáng công nghiệp là 84,32%, nhãn hiệu hàng hoá là 58,12%...Và số lượng văn bằng được cấp, sáng chế chỉ là 4,5%, giải pháp hữu ích là 60%, kiểu dáng là 86%, nhãn hiệu hàng hoá là 53%...

Trong khi đó, trên thế giới (ngay trong các DN có vốn đầu tư nước ngoài), người ta coi SHTT là một yếu tố quan trọng cấu thành giá trị hàng hoá, dịch vụ. Cùng với việc dự báo về một làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam, số lượng đơn đăng ký quốc tế các đối tượng của quyền SHTT của các tập đoàn, công ty muốn tìm kiếm cơ hội kinh doanh ở VN sẽ gia tăng nhanh chóng trong những năm tới. Do đó, vấn đề chính phải là cải thiện nhận thức từ cộng đồng doanh nghiệp VN đối với vấn đề SHTT nói chung, thực thi quyền SHTT nói riêng, đặc biệt là đăng ký xác lập và bảo vệ quyền.

(MKLAW FIRM: Biên tập)

3. Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi và sự tác động của nó.

Liên quan đến Dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, bài viết này sẽ đề cập khái quát về hệ thống pháp luật hiện hành, hoạt động thực thi, yêu cầu của việc sửa đổi, bổ sung, quan điểm của việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và cuối cùng là sự tác động của các điều khoản sửa đổi trong thực tiễn thi hành sau khi được Quốc hội thông qua.

Luật Sở hữu trí tuệ và việc sửa đổi bổ sung:

Việc Quốc hội ban hành Bộ luật Dân sự sửa đổi năm 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đánh dấu bước phát triển mới, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và hội nhập quốc tế. Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Chính phủ đã ban hành 2 Chỉ thị, 5 Nghị định; các Bộ, ngành liên quan đã ban hành 4 Thông tư và 4 Quyết định.

Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành đã tạo hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo, bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo kết tinh tại các tài sản trí tuệ. Các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ đã đi vào cuộc sống và phát huy vai trò của nó. Hoạt động thực thi của các cơ quan có thẩm quyền, hoạt động tự bảo vệ quyền của các chủ thể đã có bước tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn diễn ra đối với hầu hết các đối tượng được bảo hộ, từ quyền tác giả, quyền liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp và giống cây trồng. Nạn sao chép tác phẩm, vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa đã gây thiệt hại không nhỏ cho các nhà đầu tư. Hầu hết các bản ghi âm, ghi hình, chương trình máy tính có giá trị bị sao chép lậu, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng bị làm giả, làm nhái. Môi trường kỹ thuật số nói chung, mạng thông tin điện tử nói riêng đã bị khai thác với động cơ vụ lợi, xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả đối với các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Một số vụ việc đã được các tổ chức quốc tế, các quốc gia, doanh nghiệp nước ngoài yêu cầu các cơ quan nhà nước Việt Nam xem xét, xử lý.

Nguyên nhân của tình trạng này là nhận thức, hiểu biết trong công chúng, người có quyền và nghĩa vụ còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật không nghiêm. Mặt khác, bản thân Luật sở hữu trí tuệ cũng còn một số tồn tại thể hiện tại một số điều, khoản chưa tương thích với pháp luật quốc tế và bộc lộ những hạn chế, bất cập từ thực tiễn thực thi trong những năm qua.

Để giải quyết các tồn tại, bất cập trên về pháp luật và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, cần thiết phải thể chế hóa Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11 của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam, đồng thời sửa đổi một số điều khoản khác hiện đang chưa tương thích với luật pháp quốc tế, một số điều khoản chưa phù hợp gây khó khăn cho hoạt động thực thi, cũng như những vấn đề mới phát sinh trong quá trình thực hiện. Việc sửa đổi này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hội nhập, khắc phục các tồn tại bất cập, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức Việt Nam bình đẳng với công dân và pháp nhân của các quốc gia, nhằm thúc đẩy các hoạt động thực thi tại Việt Nam và hội nhập quốc tế. Việc sửa đổi đồng thời sẽ góp phần quan trọng phát huy năng lực sáng tạo, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, phát triển thị trường công nghệ, từ đó nâng cao hiệu lực của pháp luật, hiệu quả thực thi, góp phần phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội.

Năm quan điểm xây dựng, trình và phê duyệt Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 tiếp tục được quán triệt để triển khai thực hiện Dự án Luật, bao gồm: thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, quy phạm hóa nội dung Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội; bảo vệ lợi ích quốc gia; bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa người sáng tạo, nhà sử dụng và công chúng hưởng thụ; kế thừa các giá trị pháp luật đã được thực tiễn kiểm nghiệm, tiếp thu các chuẩn mực quốc tế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ. Từ các quan điểm này, 3 hướng chính cho việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ gồm: sửa đổi một số điều, khoản có nội dung chưa tương thích với các điều ước quốc tế đa phương, các điều, khoản khác phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội nhập; sửa đổi một số điều, khoản đang nảy sinh các vướng mắc trong thực thi; chỉnh sửa về kỹ thuật văn bản và các từ ngữ phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.

Theo đó, có 35 Điều được sửa đổi, bổ sung đã được Chính phủ trình Quốc hội tại Tờ trình số 48 ngày 9/4/2009, với 4 nhóm vấn đề gồm: sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới nội dung quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng, thuộc Phần thứ hai và Phần thứ tư Luật hiện hành; sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp, thuộc Phần thứ ba và Phần thứ sáu Luật hiện hành; sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới chính sách về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thuộc Phần thứ nhất và Phần thứ năm Luật hiện hành; sửa đổi, bổ sung đối với các điều, khoản liên quan tới kỹ thuật văn bản và thay đổi từ ngữ phù hợp với các quy định pháp luật liên quan.

Tác động của việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ:

Với việc sửa đổi như đã nêu trên, nếu được Quốc hội thông qua thì sự tác động tích cực của nó sẽ thể hiện trên các khía cạnh chính sau:

Thứ nhất: tạo ra sự phù hợp hơn của Luật Sở hữu trí tuệ với các chuẩn mực quốc tế, các cam kết của Việt Nam khi tham gia WTO

Các Điều, khoản được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với các Điều ước quốc tế đa phương, các cam kết của Việt Nam khi tham gia WTO sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hội nhập, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Việc sửa đổi này thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc hội nhập quốc tế với các chuẩn mực chung, phù hợp.

Khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài yên tâm đầu tư vào Việt Nam với cơ chế pháp luật rõ ràng, mang tính quốc tế.

Hạn chế tối đa tranh chấp về việc hiểu và thi hành Luật Sở hữu trí tuệ trong các quan hệ quốc tế. Loại trừ các ý kiến của các quốc gia tại các diễn đàn quốc tế liên quan về những tồn tại của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

Thứ hai: lợi ích quốc gia được bảo vệ trong quá trình hội nhập; tạo ra sự bình đẳng về lợi ích giữa công dân, pháp nhân Việt Nam với công dân, pháp nhân nước ngoài

Các sửa đổi, bổ sung sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân Việt Nam, đảm bảo sự hài hoà về lợi ích giữa các chủ thể quyền trong và ngoài nước, khắc phục các hạn chế trong các cam kết quốc tế, tạo vị thế và thuận lợi cho các chủ thể quyền trong các giao dịch quốc tế liên quan.

Việc sửa để kéo dài thời hạn bảo hộ tới 75 năm đối với loại hình tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh; bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, để cân bằng lợi ích giữa các loại hình, phù hợp với xu thế chung trên thế giới, vì tuổi thọ bình quân của con người đã được nâng lên (người Việt Nam có tuổi thọ bình quân là 73 tuổi); đồng thời khắc phục sự đối xử bất bình đẳng về thời hạn bảo hộ đã cam kết tại BTA. Sửa đổi này cũng nhằm để công dân, pháp nhân Việt Nam được hưởng các lợi ích như công dân, pháp nhân các nước thành viên WTO khi Việt Nam thực hiện nguyên tắc đối xử tối huệ quốc của Hiệp định Trips.

Việc bổ sung quy định về sáng chế mật để có thể bảo vệ được bí mật quốc phòng, bí mật quốc gia; quy định về chỉ dẫn địa lý đối với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận sẽ bảo vệ được tài sản quốc gia trong hoạt động thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Việc này hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ ba: công dân, doanh nghiệp được tiếp cận các quy định rõ ràng và cụ thể hơn về trình tự, thủ tục xác lập quyền

Các sửa đổi, bổ sung tạo điều kiện cho công dân, doanh nghiệp tiếp cận các thủ tục rõ ràng, minh bạch trong việc tiến hành xác lập quyền, phù hợp với yêu cầu về cải cách hành chính. Giảm các chi phí về tài chính cũng như thời gian vật chất liên quan đến việc lập hồ sơ, thủ tục nộp đơn, xin cấp văn bằng bảo hộ. Khuyến khích các chủ sở hữu nộp đơn đăng ký xác lập quyền để được bảo hộ. Ngăn chặn các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà có thể xảy ra tại các cơ quan có thẩm quyền.

Quy định rõ ràng về điều kiện tham gia kinh doanh dịch vụ sở hữu trí tuệ để các tổ chức nước ngoài có thể thực hiện dịch vụ này tại Việt Nam. Tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thực hiện các dịch vụ về sở hữu công nghiệp, bình đẳng. Theo đó, người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi từ các dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp có cạnh tranh lành mạnh.

Thứ tư: các cơ quan quản lý, thực thi về sở hữu trí tuệ được hưởng các chính sách phù hợp, tạo điều kiện cho các hoạt động thực thi có hiệu quả

Bổ sung quy định chính sách về tài chính, nhằm bảo đảm các điều kiện vật chất phù hợp với đặc thù của lĩnh vực sở hữu trí tuệ, để hỗ trợ các cơ quan quản lý, thực thi về sở hữu trí tuệ còn non trẻ, đang gặp nhiều khó khăn trong cơ chế chung hiện nay, góp phần thúc đẩy các hoạt động thực thi đạt hiệu quả.

Theo đó, các bộ, ngành có thẩm quyền quan tâm xử lý các vấn đề liên quan đến tài chính, cũng như các điều kiện vật chất khác, để các cơ quan quản lý, thực thi sở hữu trí tuệ hoàn thành nhiệm vụ theo quy định pháp luật.

Việc các bộ, ngành liên quan thành lập các tổ chức sự nghiệp để tham gia hoạt động giám định sẽ khắc phục tình trạng bất cập về chuyên môn sở hữu trí tuệ trong lực lượng thực thi thuộc bộ máy nhà nước, các tổ chức hỗ trợ thực thi như tổ chức tư vấn, dịch vụ sở hữu trí tuệ, tổ chức đại diện tập thể. Chủ trương này còn nhằm tận dụng năng lực chuyên môn của đội ngũ chuyên gia trong các cơ quan nhà nước, nhằm hỗ trợ hoạt động của các cơ quan thực thi trong điều kiện các cơ quan này chưa đủ năng lực chuyên môn về sở hữu trí tuệ.

Thứ năm: nâng cao nhận thức, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật cho công chúng, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan

Việc sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ lần này tạo ra dư luận xã hội quan tâm hơn nữa tới vấn đề sở hữu trí tuệ còn mới mẻ và rất phức tạp tại Việt Nam. Đây cũng là dịp củng cố, tiếp tục nâng cao nhận thức, hiểu biết, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng. Các văn nghệ sỹ, trí thức phấn khởi, yên tâm hơn trong các hoạt động sáng tạo để có được các sản phẩm có giá trị tư tưởng, văn học, nghệ thuật và khoa học phục vụ công chúng, vì có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.

Các cơ quan bảo vệ pháp luật được trang bị thêm kiến thức mới, đầy đủ, cụ thể hơn để có thể thực thi pháp luật có hiệu quả. Các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuận lợi hơn trong việc áp dụng khung hình phạt phù hợp với thẩm quyền. Cơ quan hải quan có điều kiện chủ động hơn trong việc xử lý hàng hoá xuất, nhập khẩu vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tại cửa khẩu biên giới.

Tóm lại, các sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các tổ chức, cá nhân tiếp cận được hệ thống pháp luật hoàn thiện, hiện đại, phù hợp với thực tiễn; tăng cường năng lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, thực thi, các cơ quan hỗ trợ thực thi, góp phần tạo ra chuyển biến tích cực, có hiệu quả của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại quốc gia và hội nhập quốc tế./.

(MKLAW FIRM: Biên tập)

4. Quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa nhập khẩu song song

Hết quyền SHTT (SHTT) là khái niệm bắt nguồn từ thuyết hết quyền.[1] Thuyết này xác định giới hạn cho quyền SHTT mang tính độc quyền và cân bằng giữa bảo hộ quyền SHTT với đảm bảo sự lưu thông của thị trường cũng như duy trì cạnh tranh lành mạnh; cân bằng giữa bảo vệ lợi ích của chủ thể nắm giữ quyền SHTT với lợi ích của người tiêu dùng.

1. Khái quát chung về hết quyền SHTT và nhập khẩu song song

Theo thuyết hết quyền, khi sản phẩm mang đối tượng SHTT được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát đối với việc phân phối và khai thác thương mại sản phẩm. Ví dụ: Sau khi bán một chai nước có ga mang nhãn hiệu Coca-Cola, quyền sở hữu trí tuệ của hãng Coca-Cola đối với chai nước này không còn nữa. Có nghĩa là: Công ty không có quyền ngăn cản khách hàng uống nước, tặng hay bán sản phẩm này cho người khác. Tuy nhiên, người mua đồ uống Coca-Cola không thể sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng Coca-Cola cho đồ uống mà họ sản xuất hay chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu này cho người khác.

Nhập khẩu song song[2] là việc nhập khẩu những hàng hóa chính hiệu (genuine goods) đã được chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác đưa ra thị trường nước ngoài với sự đồng ý của chủ sở hữu. Việc kinh doanh này diễn ra song song với các kênh phân phối được uỷ quyền. Thương mại song song có những đặc điểm sau đây: (i) đây là một hiện tượng kinh tế; (ii) hiện tượng này xảy ra đối với tất cả các loại hàng hoá; (iii) hàng hoá chính hiệu được đưa ra thị trường nước ngoài bởi chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác được chủ sở hữu cho phép; (iv) chủ thể nắm giữ quyền SHTT ở nước xuất khẩu và ở nước nhập khẩu là một hoặc là những chủ thể khác nhau nhưng có mối quan hệ pháp lý và/hoặc kinh tế với nhau; (v) trong hoạt động này của hai nhà kinh doanh, đó là nhà kinh doanh được uỷ quyền và nhà kinh doanh không được uỷ quyền; (vi) hoạt động này có thể xảy ra giữa hai nước trở lên. Nguyên nhân kinh tế của thương mại song song là sự khác biệt về giá giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu hàng hoá. Hàng hóa trong thương mại song song bao giờ cũng được chuyển từ nước có giá bán sản phẩm thấp đến nước có giá bán sản phẩm cao. Nhà kinh doanh trong trường hợp này có thể thu được lợi nhuận bằng cách xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hoá song song với các kênh chính thức.

>> Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 0986.386.648

Thuyết hết quyền là cơ sở pháp lý cho thương mại song song nói chung và nhập khẩu song song nói riêng. Nhập khẩu song song có được thừa nhận hay không phụ thuộc vào cơ chế hết quyền mà nước nhập khẩu áp dụng. Trường hợp 1: Nếu nước nhập khẩu áp dụng cơ chế hết quyền quốc gia (the national exhaustion regime), chủ thể nắm giữ quyền SHTT chỉ mất quyền kiểm soát việc phân phối và khai thác thương mại sản phẩm trong phạm vi lãnh thổ nước này. Do đó, nhập khẩu song song không được công nhận. Trường hợp 2: Nếu nước nhập khẩu áp dụng cơ chế hết quyền khu vực (the regional exhaustion regime), chủ thể nắm giữ quyền SHTT mất quyền kiểm soát việc phân phối và khai thác thương mại sản phẩm trong phạm vi khu vực. Do đó, nhập khẩu song song chỉ được thừa nhận trong phạm vi khu vực. Trường hợp 3: Nếu nước nhập khẩu song song áp dụng cơ chế hết quyền quốc tế (the international exhaustion regime), chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát việc phân phối và khai thác thương mại sản phẩm trên toàn thế giới. Do đó, nhập khẩu song song được thừa nhận. Chính vì thuyết hết quyền và nhập khẩu song song có mối quan hệ chặt chẽ, hai vấn đề này thường được đặt cạnh nhau.

Hết quyền SHTT và nhập khẩu song song được công nhận là những vấn đề quan trọng trong chính sách và pháp luật SHTT cũng như thương mại của mỗi quốc gia. Do những giá trị lý luận và thực tiễn của chúng, những vẫn đề này thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cũng như những người làm thực tiễn trong cả lĩnh vực pháp luật và kinh tế. Cho đến nay, nhiều tranh cãi còn tồn tại xoanh quanh hết quyền SHTT và nhập khẩu song song. Bài viết này tập trung vào pháp luật của một số nước Đông Nam Á (ASEAN) bao gồm Singapore, Malaysia, Philipines, Việt Nam về hết quyền SHTT và nhập khẩu song song đối với sáng chế, quyền tác giả, nhãn hiệu.[3]

2. Giới thiệu pháp luật của một số nước ASEAN về hết quyền SHTT và nhập khẩu song song

2.1. Singapore

Đối với sáng chế: Cơ chế hết quyền quốc tế và nhập khẩu song song được áp dụng cho những sản phẩm và quy trình được bảo hộ sáng chế. Theo quy định tại Mục 66.2.g, Đạo luật Sáng chế năm 1994: nhập khẩu sản phẩm được bảo hộ sáng chế hoặc sản phẩm được tạo ra theo quy trình được bảo hộ sáng chế không bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế khi sản phẩm được tạo ra bởi chính chủ sở hữu sáng chế hoặc với sự đồng ý của chủ thể này hoặc bởi người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. Quy định này được áp dụng cho cả những sáng chế được cấp ở Singapore cũng như bất kỳ quốc gia nào. Riêng đối với thuốc, Singapore phải giảm bớt mức độ bảo hộ cho thuốc nhập khẩu song song được bảo hộ sáng chế trước sức ép từ phía Hoa Kỳ.[4] Điều này được phản ánh trong Điều 16.7.2 Thoả thuận thương mại tự do Hoa Kỳ-Singapore và Mục 66.2.g, Đạo luật Sáng chế sửa đổi năm 2004. Tuy nhiên, nhập khẩu song song thuốc được cho phép khi thoả mãn các điều kiện quy định tại Mục 66.2.i: (i) sử dụng bởi và cho bệnh nhân cụ thể ở Singapore; (ii) cần thiết cho bệnh nhân đó; (iii) được cơ quan có thẩm quyền cho phép; (iv) sản phẩm được sản xuất bởi hoặc với sự đồng ý của chủ sở hữu sáng chế hoặc người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.

Đối với nhãn hiệu: Theo quy định tại Mục 29, Đạo luật Nhãn hiệu Singapore năm 1998: nhập khẩu song song hàng hoá được chấp nhận nếu hàng hoá được đưa ra thị trường Singapore hoặc thị trường nước ngoài bởi chính sở hữu nhãn hiệu hoặc với sự đồng ý rõ ràng hay ngụ ý của chủ sở hữu nhãn hiệu. Tuy nhiên, chủ sở hữu nhãn hiệu không hết quyền sở hữu trí tụê đối với nhãn hiệu được bảo hộ nếu điều kiện của hàng hoá mang nhãn hiệu bị thay đổi hoặc bị hư hại sau khi được đưa ra thị trường và việc sử dụng nhãn hiệu đó gây thiệt hại đến đặc thù hoặc danh tiếng của nhãn hiệu đã đăng ký. Như vậy, cũng như đối với sáng chế, Singapore áp dụng hết quyền quốc tế và nhập khẩu song song cho hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ.

Đối với quyền tác giả: Singapore công nhận và bảo vệ hoạt động nhập khẩu song song các sản phẩm được bảo hộ quyền tác giả với cách tiếp cận rất rộng. Thứ nhất, Đạo luật quyền tác giả Singapore năm 1987 cho phép nhập khẩu sản phẩm được bảo hộ quyền tác giả được tạo ra ở nước ngoài với sự đồng ý của chủ thể nắm giữ quyền tác giả hoặc người được uỷ quyền mặc dù chủ thể nắm giữ quyền tác giả ở Singapore không phải là nhà nhập khẩu (Mục 25.3). Thứ hai, trong trường hợp giữa chủ thể nắm giữ quyền tác giả và bên mua đã có thoả thuận không xuất khẩu sản phẩm đến Singapore nhưng chủ thể nắm giữ quyền tác giả không có ý kiến, việc nhập khẩu này vẫn được coi là hợp pháp (Mục 25.3 và Mục 25.4. Thứ ba, nhập khẩu song song những phụ kiện kèm theo sản phẩm chính được bảo hộ quyền tác giả cũng được coi là hợp pháp. Cho nên, nhập khẩu song song sách hướng dẫn, bao bì đóng gói, tài liệu bảo hành…được coi là nhập khẩu hợp pháp khi nhập khẩu song song sản phẩm chính được công nhận hợp pháp (Mục 40A và Mục 116A).

Tính hợp pháp của nhập khẩu song song được khẳng định trong các phán quyết của Toà án Singapore. Ví dụ: vụ Remus Innovation v. Hong Boon Siong năm 1991.[5]

2.2.Malaysia

Đối với sáng chế: Malaysia áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc tế cho sáng chế. Trong Đạo luật Sáng chế năm 1983 vấn đề hết quyền đối với sáng chế được quy định chưa rõ ràng (Mục 37.2.1.). Năm 2000, trước nhu cầu tiếp cận và giảm giá thuốc, đặc biệt là thuốc chữa bệnh HIV/AIDS,[6] Malaysia đã sửa đổi Đạo luật Sáng chế với quy định rõ ràng hơn về nhập khẩu song song tại Mục 58A. Bên cạnh quy định mở về nhập khẩu song song tại Mục 58A, Malaysia cũng quy định giới hạn cho nhập khẩu song song. Thứ nhất, chỉ công nhận nhập khẩu song song khi sản phẩm được đưa ra thị trường bởi: (i) chủ sở hữu sáng chế; (ii) người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế; (iii) người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc chuyển giao (compulsory license); (iv) người có quyền sử dụng trước (Mục 37.2 Đạo luật Sáng chế). Thứ hai, chủ sở hữu sáng chế có thể sử dụng hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế (license agrrement) để hạn chế bên được chuyển giao xuất khẩu sản phẩm trở lại Malaysia (Mục 43.1 Đạo luật Sáng chế).[7] Nhập khẩu song song sản phẩm được bảo hộ sáng chế được Toà án Malaysia xem xét trong một số vụ việc, trong đó vụ việc đầu tiên là Smith Kline & French Laboratories Ltd v. Salim (M) Sdn. Bhd năm 1989.

Đối với nhãn hiệu: Hết quyền SHTT đối với nhãn hiệu không được quy định rõ trong Đạo luật Nhãn hiệu năm 1976 và Đạo luật Nhãn hiệu sửa đổi năm 2000. Mục 70D của Đạo luật nhãn hiệu sửa đổi năm 2000 cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngăn chặn hàng hoá nhập khẩu vi phạm quyền đối với nhãn hiệu (counterfeit trade mark goods). Tuy nhiên, quy định này lại không đề cập tới nhập khẩu hàng hoá chính hiệu là đối tượng của nhập khẩu song song. Vấn đề nhập khẩu song song hàng hoá được bảo hộ nhãn hiệu cũng được xem xét trong vụ việc Panado năm 1988. Tuy nhiên, phán quyết của vụ việc này lại không rõ ràng.

Đối với quyền tác giả: Trong Đạo luật quyền tác giả năm 1987, nhập khẩu song song sản phẩm được bảo hộ quyền tác giả bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, trong Đạo luật quyền tác giả sửa đổi năm 1990, những hạn chế nhập khẩu song song đã bị dỡ bỏ theo quy định tại Mục 36.2.

2.3.Philipines

Trước năm 2007, Philipines áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc gia và nhập khẩu song song bị coi là bất hợp pháp ở quốc gia này. Đối với sáng chế, Mục 71 Bộ luật sở hữu trí tụê Philipines năm 1997 áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc gia với quy định: các độc quyền của chủ sở hữu sáng chế không còn khi chủ thể đưa hàng hoá ra thị trường Philipines. Đối với nhãn hiệu, Bộ luật SHTT Philipines cấm nhập khẩu hàng hoá vi phạm quyền chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ (Mục 166 Bộ luật SHTT Philipines). Tuy nhiên, mục này không đề cập đến nhập khẩu hàng hoá chính hiệu là đối tượng của nhập khẩu song song. Đối với quyền tác giả, cũng như đối với sáng chế và nhãn hiệu, hết quyền và nhập khẩu song song sản phẩm được bảo hộ quyền tác giả không được pháp luật Philipines quy định. Toà án Philipines đã giải quyết một số vụ việc về nhập khẩu song song và có chung quan điểm ngăn cấm hoạt động này.[8]

Năm 2007 đánh dấu sự thay đổi lớn trong chính sách cũng như pháp luật Philipines về hết quyền SHTT và nhập khẩu song song. Tháng 1 năm 2007, Nghị viện Philipines đã thông qua Bộ luật SHTT sửa đổi (Republic Act No. 8293), trong đó thừa nhận nhập khẩu song song thuốc.[9] Như vậy, Philipines đã chuyển từ áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc gia sang áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc tế đối với sản phẩm thuốc.[10] Trước thực trạng giá thuốc cao ở Philipines, Chính Phủ nước này đã coi nhập khẩu song song là công cụ giảm giá thuốc và tăng cường khả năng tiếp cận với thuốc ở quốc gia này.[11]

2.4.Việt Nam

Đối với sáng chế và nhãn hiệu: Quy định quan trọng nhất về hết quyền SHTT đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung là Điều 125.2.b Luật SHTT năm 2005. Điều 125.2.b quy định như sau: “Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý không có quyền cấm người khác…lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài”. “Sản phầm được đưa ra thị trường…một cách hợp pháp” được làm rõ tại khoản 2 Điều 21 Nghị định 103/2006/ND-CP. Theo đó, “Sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 125 của Luật SHTT được hiểu là sản phẩm do chính chủ sở hữu, người được chuyển giao quyền sử dụng, kể cả chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc, người có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp đã đưa ra thị trường trong nước hoặc nước ngoài.” Như vậy, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp không thể ngăn chặn chủ thể khác lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm đã được ra thị trường bất kỳ nơi nào trên thế giới nhưng có quyền ngăn chặn các chủ thể khác thực hiện những hành vi này với những sản phẩm mà không phải chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được chủ sở hữu nhãn hiệu đồng ý đưa ra thị trường – những sản phẩm này được coi là sản phẩm bất hợp pháp.

Xem xét điểm b khoản 2 Điều 125 trong mối quan hệ với khoản 2 Điều 21 Nghị định 103/2006/NĐ-CP cho thấy rằng: quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp bị hết khi hai điều kiện sau đây thoả mãn: (i) sản phẩm đã được đưa ra thị trường, bất kể thị trường trong nước hay thị trường nước ngoài; (ii) chủ thể đưa sản phẩm ra thị trường là chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp, người được chuyển giao quyền sử dụng (bao gồm cả người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyền định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền), hoặc người có quyền sử dụng trước đối tưng sở hữu công nghiệp. Như vậy, Việt Nam áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc tế cho các đối tượng sở hữu công nghiệp với một sự nhấn mạnh đặc biệt dành cho nhãn hiệu.[12]

Năm 2004, nhằm ổn định, giảm tình trạng “sốt” thuốc trên thị trường nội địa và ngăn chặn tình trạng lạm dụng vị trí độc quyền của một số hãng dược phẩm nước ngoài, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 1906/2004/QĐ-BYT về nhập khẩu song song thuốc phòng và chữa bệnh cho người.[13]

Đối với quyền tác giả: Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 Luật SHTT năm 2005, chủ thể nắm giữ quyền tác giả có quyền “phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm”. Tuy nhiên, vấn đề không rõ là nhập khẩu song song bản gốc hoặc bản sao tác phẩm là hành vi hợp pháp hay bất hợp pháp? Hơn nữa, thương mại song song các hàng hoá được bảo hộ quyền tác giả không bị liệt kê trong danh mục hành vi xâm phạm quyền tác giả theo Điều 28 Luật SHTT. Như vậy, không có bất kỳ quy định nào về hết quyền tác giả trong Luật SHTT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này.

3. Kết luận

Điểm tương đồng rõ nét nhất trong pháp luật của bốn quốc gia – Singapore, Malaysia, Philipines, Việt Nam – về hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song là: các quốc gia đều chú trọng chính sách nhập khẩu song song thuốc và coi đây là hoạt động hợp pháp. Malaysia đã sửa đổi Đạo luật Sáng chế vào năm 2000 với cơ sở pháp lý rõ ràng dành cho nhập khẩu song song thuốc tại Mục 58A. Tương tự như Malaysia, Philipines sửa đổi Bộ luật SHTT vào năm 2007 với bước ngoặt quan trọng: cho phép nhập khẩu song song thuốc. Với sự kiện pháp lý quan trọng này, Philipines đã lựa chọn cơ chế hết quyền quốc tế dành cho thuốc thay cho cơ chế hết quyền quốc gia được áp dụng một thời gian dài ở Philipines. Ở Việt Nam, hoạt động nhập khẩu song song thuốc được tiến hành trên cơ sở Quyết định 1906/2004/QĐ-BYT. Tuy nhiên, khác với quy định về nhập khẩu song song thuốc của Việt Nam không gắn liền với đối tượng sở hữu công nghiệp cụ thể (Singapore, Malaysia, Philipines bảo hộ thuốc nhập khẩu song song được bảo hộ sáng chế). Mặc dù Singapore phải giảm mức độ bảo hộ dành cho thuốc nhập khẩu song song trước sức ép từ phía Hoa Kỳ, Singapore vẫn có quy định mở đường cho hoạt động này trong những trường hợp nhất định tại Mục 66.2.i Đạo luật Sáng chế.

Giá thuốc cao và khó khăn trong tiếp cận với thuốc là tình trạng đặc thù ở các nước đang phát triển nói chung. Bởi vậy, các nước đang phát triển thường coi nhập khẩu song song là công cụ hữu hiệu nhằm giảm giá thuốc và tăng khả năng tiếp cận thuốc của người dân. Singapore là nước phát triển, tuy nhiên, một số lượng lớn thuốc của nước này phải nhập khẩu. Do đó, quốc gia này áp dụng chính sách cho phép nhập khẩu song song thuốc.

Bên cạnh điểm tương đồng nêu trên của cả bốn quốc gia, quy định của Malaysia và Việt Nam về hết quyền SHTT có điểm tương đồng và không tồn tại trong pháp luật Singapore mà Philipines. Theo quy định tại Mục 37.2 Đạo luật Sáng chế Malaysia và khoản 2 Điều 21 Nghị định 103/2006/NĐ-CP Luật SHTT năm 2005, hết quyền SHTT xảy ra kể cả trong trường hợp sản phm được đưa ra thị trường bởi người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nói cách khác, trong trường hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sang chế, điều kiện đồng ý đưa sản phẩm vào lưu thông vẫn được coi là thoả mãn theo quy định của pháp luật Malaysia và Việt Nam. Trong khi đó, theo pháp luật của nhiều nước khác, điều kiện đồng ý đưa sản phẩm vào lưu thông thường được coi là không thoả mãn trong trường hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.[14]

Quy định hết quyền sở hữu trí tụê xảy ra kể cả trong trường hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế của Malaysia và Việt Nam nhằm tăng khả năng cho những quốc gia này tiếp cận với những thành quả sáng tạo của con người. Bởi vì hai quốc gia này thường là bên được chuyển giao trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. Khi hết quyền xảy ra, họ có quyền tuyệt đối trong khai thác, sử dụng sản phẩm được bảo hộ sáng chế mà không chịu sự can thiệp từ phía chủ hữu sáng chế.

Khác biệt lớn nhất trong pháp luật hiện hành của Singapore, Malaysia, Philipines, Việt Nam về hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song là: các quốc gia áp dụng nguyên tắc hết quyền khác nhau. Singapore áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc tế cho sáng chế, nhãn hiệu, quyền tác giả và thừa nhận nhập khẩu song song sản phẩm mang đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ. Ở quốc gia này, không có bất kỳ rào cản pháp lý và thực tế nào cho hoạt động nhập khẩu song song. Malaysia lựa chọn nguyên tắc hết quyền quốc tế cho sáng chế và quyền tác giả; trong khi đó, quốc gia này không quy định rõ cơ chế hết quyền dành cho nhãn hiệu. Philipines duy trì nguyên tắc hết quyền quốc gia cho các đối tượng sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, nhập khẩu song song thuốc được coi là hợp pháp sau khi Bộ luật SHTT được thông qua năm 2007. Việt Nam thừa nhận hết quyền quốc tế cho các đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung nhưng cơ chế hết quyền chưa được xác định rõ cho quyền tác giả.

Việc lựa chọn cơ chế hết quyền SHTT phụ thuộc vào ba yếu tố: (i) điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể của mỗi quốc gia; (ii) chính sách của mỗi quốc gia; (iii) đặc điểm của mỗi đối tượng SHTT.[15] Malaysia, Philipines, Việt Nam là ba nước đang phát triển với điều kiện kinh tế tương đối giống nhau; Singapore là nước phát triển và có mức độ phát triển cao nhất trong khối ASEAN. Tuy nhiên, bốn nước này đều là những nước nhập khẩu. Bởi vậy, áp dụng cơ chế hết quyền quốc tế với sự thừa nhận nhập khẩu song song được coi như giải pháp hữu hiệu nhằm làm phong phú hơn hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và người tiêu dùng có thể dễ dàng hơn trong tiếp cận những sản phẩm sáng tạo trí tuệ của con người trên toàn thế giới.[16] Hơn nữa, nhập khẩu song song được chứng minh rằng dẫn đến giảm giá bình quân và là giải pháp tốt cho vấn đề giá cao ở thị trường nội địa.[17] Mặc dù nhập khẩu song song đem lại lợi ích cho các nước đang phát triển, tuy nhiên, Philipines vẫn duy trì cơ chế hết quyền quốc gia cho các đối tượng sở hữu trí tuệ và cho các sản phẩm, ngoại trừ nguyên tắc hết quyền quốc tế dành cho thuốc. Điều này xuất phát từ chính sách bảo hộ của nước này đối với các nhà sản xuất và người tiêu dùng. Về nguyên tắc, cơ chế hết quyền quốc gia được lựa chọn trên cơ sở chính sách bảo hộ chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ và nhà sản xuất trong nước.[18]

Hơn nữa, pháp luật của bốn quốc gia về hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song cũng ở mức độ hoàn thiện khác nhau. So với Malaysia, Philipines và Việt Nam, pháp luật Singapore về vấn đề này đạt được mức độ hoàn thiện cao nhất với những quy định cụ thể, rõ ràng cho phép nhập khẩu song song. Trong khi đó, còn những điểm không rõ ràng trong quy định của pháp luật Malaysia và Việt Nam về hết quyền sở hữu trí tụê và nhập khẩu song song. Đối với Việt Nam, hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song còn là những vấn đề mới và chưa được đề cập đến trong các phán quyết của Toà án. Điều này phản ánh sự khác biệt trong phát triển kinh tế và trình độ lập pháp giữa các quốc gia này.

Như vậy, pháp luật của Singapore, Malaysia, Philipines, Việt Nam về hết quyền SHTT và nhập khẩu song có những tương đồng bên cạnh một số khác biệt. Những khác biệt trong áp dụng nguyên tắc hết quyền giữa của các quốc gia có thể tạo ra những rào cản trong hoạt động kinh thương mại liên quan đến sản phẩm được bảo hộ quyền SHTT giữa các quốc gia. Nếu ASEAN đặt mục tiêu thống nhất ở mức độ cao như Liên minh Châu Âu, các quốc gia thành viên ASEAN cũng phải áp dụng một nguyên tắc hết quyền thống nhất – đó là nguyên tắc hết quyền khu vực – như Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật của các quốc gia thành viên ASEAN đều phù hợp với những thoả thuận quan trọng nhất của Tổ chức Thương mại thế giới về hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song. Đó là: Hiệp định TRIPS (Điều 6) và Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và sức khoẻ cộng đồng (Điều 5)./.

(MKLAW FIRM: Biên tập)

5. Kiến nghị về Luật Sở hữu trí tuệ

Liên quan đến các vấn đề quan trọng trong lĩnh vực CNTT-TT như quyền tác giả bao gồm chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu (phần mềm) và các vấn đề nêu trên trong Luật SHTT ban hành năm 2006 và các dự thảo sửa đổi bổ sung có liên quan đến ngành CNTT-TT và công tác quản lý nhà nước về CNTT-TT, ngày 22/5/2009 Hội Tin học Việt Nam đã có văn bản kiến nghị đến Quốc hội về các sửa đổi trong dự thảo bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành và có hiệu lực từ năm 2006. Luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó. Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu (mục m), tác phẩm báo chí (mục c), âm nhạc, điện ảnh, sân khấu, nhiếp ảnh, kiến trúc (mục d,e,g,i,h), các tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác (mục a). Đồng thời, do đặc tính kỹ thuật cao của chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu quy định bảo hộ được nêu riêng trong Điều 22. Theo đó chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu được bảo hộ về hình thức và mức độ như tác phẩm văn học dù được thể hiện dưới mã nguồn hay mã máy. Đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình.

Điều 11 trong Luật sở hữu trí tuệ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ như sau:

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực hiện quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.

Bộ Văn hoá - Thông tin trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng.

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theo thẩm quyền.

5. Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban nhân dân các cấp.”

Các vấn đề nêu trên trong Luật SHTT năm 2006 và các dự thảo sửa đổi bổ sung có liên quan đến ngành CNTT-TT và công tác quản lý nhà nước về CNTT-TT cho thấy:

Chức năng QLNN của các Bộ đã được cơ cấu lại và những quy định trong Điều 11 Luật Sở hữu trí tuệ không còn phù hợp nữa. Cụ thể Bộ Văn hoá và Thông tin chuyển lĩnh vực báo chí, xuất bản sang Bộ Thông tin và Truyền thông (theo quyết định 1000/QĐ-TTg) và chuyển tên thành Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, còn Bộ Bưu chính Viễn thông cũ nhận thêm chức năng thông tin chuyển thành Bộ Thông tin và Truyền thông. Theo Nghị định số 187/2007/NĐ-CP Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin; điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia. Chức năng và quyền hạn cụ thể của Bộ Thông tin và Truyền thông về vấn đề quyền tác giả, bản quyền và sở hữu trí tuệ được nêu trong Điều 19 của nghị định này. Tương tự như vậy, chức năng của Bộ Văn hoá, thể thao và Du lịch về vấn đề này được nêu trong Điều 10 của Nghị định số 185/2007/NĐ-CP. Dựa theo hai Điều này, Bộ Văn hoá chỉ có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật. Còn Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức, thực hiện các qui định của pháp luật về quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm báo chí, xuất bản và dịch vụ công nghệ thông tin, hay nói theo cách khác là các sản phẩm công nghiệp phần cứng và công nghiệp phần mềm.

Liên quan đến việc quyền tác giả đối với phần mềm máy tính cho thấy:

Luật SHTT năm 2006 quy định bảo hộ chương trình máy tính như tác phẩm viết. Cụ thể, theo Luật SHTT, tác giả của chương trình máy tính (phần mềm) là các cá nhân trực tiếp tham gia xây dựng chương trình. Các tác giả có tất cả các quyền nhân thân như tác giả các tác phẩm văn học nghệ thuật khác - ví dụ như quyền đặt tên, quyền đứng tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm – được bảo hộ trong 50 năm sau khi tác giả cuối cùng chết. Luật Sở hữu trí tuệ không cho phép đăng ký tác giả là một pháp nhân – đây chính là mấu chốt của mọi rắc rối trong thực tế ngành phần mềm hiện nay. Quy định pháp nhân không thể là tác giả của phần mềm có thể nảy sinh các vấn đề: Nếu giám đốc công ty đứng tên tác giả sẽ đối đầu với việc một trong các lập trình viên hoặc những người tham gia dự án phần mềm sẽ kiện vì họ trực tiếp tham gia vào công việc viết hoặc sáng tạo ra phần mềm nên hiển nhiên được pháp luật thừa nhận là tác giả. Nếu theo quy định quyền đứng tên, đưa tên tất các các lập trình viên tham gia dự án vào danh sách tác giả thì có thể sẽ có phần mềm có tới hàng nghìn người. Ghi tên tất cả những người này vào tờ đăng ký bản quyền và giấy chứng nhận bản quyền được cho là thiếu thực tế. Đặc biệt với quy định về quyền nhân thân tác giả, công ty là chủ sở hữu tác phẩm phần mềm muốn phát triển, sửa đổi, công bố ngừng hay hủy bỏ dự án phần mềm phải được sự đồng ý của tất cả các tác giả (lập trình viên tham gia dự án phần mềm). Điều này tương đồng với việc mỗi khi công ty muốn nâng cấp phần mềm đều phải hỏi ý kiến của các lập trình viên (kể cả khi lập trình viên này không còn làm việc tại công ty nữa) và nếu một trong số họ không đồng ý thì dự án nâng cấp coi như phải ngừng.

Vì vậy, trên cơ sở các kiến nghị của các tổ chức, các doanh nghiệp và các cá nhân hội viên của mình về vấn đề quan đến lĩnh vực CNTT trong Luật SHTT, ngày 22/05/2009 Hội Tin học Việt Nam đã gửi tới Quốc hội các kiến nghị cụ thể:

1. Trong dự thảo sửa đổi bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ thay các cụm từ Bộ Văn hoá Thông tin trong điều 11 (3 lần) bằng cụm từ: Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông.

2. Tại diều về “Quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu”, đề nghị bổ sung quy định “Giao chính phủ quy định chi tiết việc bảo vệ quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu" để Chính phủ có cơ sở xây dựng Nghị định quy định chi tiết phù hợp các đặc thù của quyền tác giả đối với phần mềm máy tính, sưu tập dữ liệu.

Các kiến nghị của Hội Tin học Việt Nam với dự thảo sửa đổi bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ mong muốn Quốc hội xem xét, giải quyết để góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành CNTT-TT Việt Nam nhằm phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

(MKLAW FIRM: Biên tập)