1. Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội ít nghiêm trọng

>>Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Thưa luật sư, em tôi có lừa đảo một người vs trị giá là 30 triệu đồng và trước đây đã từng bị xử phạt hành chính về tội này .Vậy luật sư cho e hỏi quy định của pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là như thế nào. Thời hạn để chuẩn bị xét xử là bao nhiêu ngaỳ?

Luật sư trả lời:

Pháp luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau :

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Thời gian chuẩn bị xét xử đối với tội ít nghiêm trong là 30 ngày căn cứ theo khoản 1 điều 277 bộ luật tố tụng hình sự quy định

Điều 277. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.

Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.

2. Đối với vụ án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn chuẩn bị xét xử quy định như thế nào ?

>> Xem thêm: Khám nghiệm hiện trường là gì? Khái quát chung về khám nghiệm hiện trường

Căn cứ theo khoản 2 điều 277 bộ luật tố tụng hình sự quy định như sau:

Điều 277. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.

Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.

3. Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bao lâu?

>> Xem thêm: Lú luận về động cơ phạm tội trong vụ án hình sự ?

Về thời hạn Lệnh tạm giam để chuẩn bị xét xử, theo quy định tại khoản 2 - Điều 278 BLTTHS năm 2015 thì thời hạn tạm giam không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 - Điều 277 BLTTHS năm 2015 “Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, … Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp”.

Vấn đề vướng mắc phát sinh. Giả sử: A phạm tội rất nghiệm trọng ở giai đoạn truy tố Viện kiểm sát ra Lệnh tạm giam đối với bị cáo đến ngày 09/3/2021 nhưng ngày 25/02/2021 Viện kiểm sát đã chuyển hồ sơ và Cáo trạng cho Tòa án để thụ lý. Vậy thì thời hạn ra Lệnh tạm giam của bị cáo tính từ ngày nào? Ngày Tòa án thụ lý vụ án là ngày 25/02/2021 hay ngày hết lệnh của Viện kiểm sát đã ra lệnh trước đó là ngày 09/03/2021? Chánh án có quyền ra Lệnh tạm giam tính cả thời gian gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử không? Thực tiễn, có hai quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: Do vụ án rất nghiệm trọng, có tính chất phức tạp căn cứ khoản 1 – Điều 277 BLTTHS 2015. Tòa án ra Lệnh tạm giam thời hạn 90 ngày kể từ ngày 25/02/2021 đến ngày 25/5/2021 (gồm thời hạn tạm giam trong thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng đối với tội rất nghiêm trọng cộng với 30 ngày gia hạn xét thấy đối với vụ án phức tạp).

Quan điểm thứ hai: Tòa án ra Lệnh tạm giam thời hạn 02 tháng (trừ đi thời hạn lệnh của Viện kiểm sát ra trước đó) tức là tính từ ngày 10/3/2021 đến 25/5/2021 còn lại 47 ngày vì đã sử dụng 13 ngày tạm giam của Viện kiểm sát. Và sẽ tiếp tục ra gia hạn tạm giam thêm 30 ngày trong trường hợp gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án phức tạp.

Trước đây, theo quy định tại Điều 177 BLTTHS năm cũ thì thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 176 của BLTTHS năm cũ và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về một số quy định trong phần xét xử sơ thẩm của BLTTHS năm cũ. Theo đó, thời hạn tạm giam được tính kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và không được quá 45 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và ba tháng mười lăm ngày đối với phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Hiện nay, theo quy định Khoản 2 - Điều 278 BLTTHS năm 2015 quy định: Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 - Điều 277 BLTTHS năm 2015. Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì thời hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 30 ngày, tội nghiêm trọng là 45 ngày, rất nghiêm trọng là 02 tháng và tội đặc biệt nghiêm trọng là 03 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án (thời hạn tạm giam đã giảm so với quy định trước đây). Đối với vụ án phức tạp thì Chánh án có thể quyết định gia hạn thêm 15 ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Quy định như vậy là nhằm hạn chế việc lạm dụng việc ra lệnh tạm giam kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo và lệnh chồng lệnh, nhằm đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp 2013 về việc đảm bảo quyền con người trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn giam giữ, đảm bảo việc xét xử; trong khi tại phiên tòa Hội đồng xét xử còn ra Lệnh tiếp tục tạm giam 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Hiện nay chưa có hướng dẫn thống nhất vấn đề này nên các Thẩm phán thường áp dụng không thống nhất, điều này phần nào ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, mặc dù về bản chất thì bị cáo vẫn bị tạm giam nhưng có thể ảnh hưởng đến việc kéo dài thời gian thụ lý giải quyết vụ án.

Như ví dụ nêu trên đối với quan điểm thứ hai, thì Tòa án ra Lệnh tạm giam đối với bị cáo A là 47 ngày kể từ ngày 10/3/2021 (ngày hết lệnh tạm giam của Viện kiểm sát) trừ đi 13 ngày Viện kiểm sát đã ra Lệnh tạm giam trước đó. Nghĩa là, thực hiện như tinh thần của Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về tính thời hạn tạm giam là kể từ ngày tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng của lệnh tạm giam trước đó và không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 - Điều 277 của BLTTHS năm 2015 trừ đi thời hạn bị can bị tạm giam, kể từ ngày thụ lý vụ án (02 tháng đối với tội rất nghiệm trọng).

Đối với việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp theo quy định của khoản 1 – Điều 277 BLTTHS 2015, như vậy thì việc gia hạn tạm giam trong trường hợp này phải được ra lệnh gia hạn tạm giam chứ không được tính chung thời hạn như quan điểm thứ nhất được.

Thấy rằng, đối với thời hạn tạm giam thì có thể áp dụng tinh thần hướng dẫn của Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC để tính thời hạn tạm giam là kể từ ngày tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng của lệnh tạm giam trước đó và không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 - Điều 277 của BLTTHS năm 2015 trừ đi thời hạn bị can bị tạm giam, kể từ ngày thụ lý vụ án (tức là trừ đi thời hạn tạm giam của Viện kiểm sát đang còn khi Tòa án thụ lý vụ án). Nếu ra lệnh kể từ ngày thụ lý vụ án thì dẫn đến hệ lụy là lệnh chồng lệnh, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo; trong thời hạn nhất định bị can, bị cáo phải bị áp dụng hai lệnh cùng lúc. Đồng thời, không được gộp chung thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử cộng với thời hạn gia hạn tạm giam trong cùng một Lệnh tạm giam nhằm hạn chế việc lạm dụng việc ra Lệnh tạm giam kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của bị can, bị cáo và lệnh chồng lệnh, đúng theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và BLTTHS năm 2015

4.Bình luận thời hạn chuẩn bị xét xử

>> Xem thêm: Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự”

Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là khoảng thời gian theo quy định của pháp luật để Tòa án thực hiện các hoạt động tố tụng và các công việc cần thiết khác đảm bảo cho việc xét xừ vụ án tại phiên tòa sơ thẩm đạt chất lượng và hiệu quả cao. Trong đó, thời hạn để Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra một trong các quyết định như quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chi vụ án là ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm ưọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án.

Đối với vụ án phức tạp, có nhiều tình tiết khố đánh giá thống nhất về tính chất vụ án cố liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành mà Thẩm phán chưa thể ra được một trong các quyết định trong thời hạn nêu trên thì Thẩm phán báo cáo Chánh án xin gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử.

Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá mười lăm ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tòa án phải thông báo ngay việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Việc thông báo này giúp cho Viện kiểm sát thực biện tốt chức năng kiểm sát xét xử và chủ động trong việc tham gia phiên tòa.

Trong trường hợp vụ án được trả lại để điều tra bổ sung mà Viện kiểm sát sau khi điểu tra xong đã trả lại hồ sơ cho Tòa án, thì thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thối hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ.

Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trong trường hợp có lý do chính đáng như người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng (bị cáo, người bị hại, người làm chứng quan trọng) không thể tham gia phiên tòa trong ngày xét xử hoặc việc chuẩn bị cơ sở vật chất cho phiên tòa không kịp ngày đã ấn định... thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn ba mươi ngày.

5. Vướng mắc về thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 277 BLTTHS 2015

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Theo hướng dẫn này, trường hợp không phải gia hạn thời hạn, thì thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm kể từ ngày Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà nhận hồ sơ vụ án, tối đa là 45 ngày, 02 tháng, 02 tháng 15 ngày, 03 tháng 15 ngày tương ứng với 04 loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; trường hợp phải gia hạn thời hạn, thì thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa là 02 tháng, 02 tháng 15 ngày, 03 tháng 15 ngày, 04 tháng 15 ngày tương ứng với 04 loại tội phạm nói trên, và mỗi trường hợp chỉ được gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử là 01 lần. Trường hợp vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 30 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ. Nếu phiên toà không mở được trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử vì có lý do chính đáng, thì thời hạn mở phiên tòa của mỗi trường hợp trên được cộng thêm 15 ngày nữa, tối đa là 02 tháng 15 ngày, 03 tháng, 04 tháng, 05 tháng tương ứng với 04 loại tội phạm.

Tuy nhiên, trường hợp khi nghiên cứu hồ sơ, Tòa án xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình theo các quy định về thẩm quyền xét xử từ Điều 268 đến Điều 273 BLTTHS 2015, thì Tòa án ra quyết định trả hồ sơ vụ án (kèm theo hồ sơ vụ án) đến Viện kiểm sát (VKS) đã truy tố để VKS chuyển hồ sơ vụ án đến VKS có thẩm quyền truy tố, nhưng nếu VKS đã truy tố không chấp nhận quyết định trả hồ sơ của Tòa án và vẫn giữ nguyên quan điểm về thẩm quyền thì thủ tục tố tụng được tiến hành theo quy định tại các Điều 274 và 275 BLTTHS 2015.

Ví dụ: Ngày 01/10/2019, Tòa án quân sự khu vực X Quân khu Y thụ lý hồ sơ vụ án Nguyễn Văn A bị VKS quân sự khu vực X1 truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” (Điều 173 BLHS 2015). Theo Cáo trạng thì hành vi của bị can A phạm vào điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS 2015, là tội phạm nghiêm trọng, thời hạn chuẩn bị xét xử ban đầu là 02 tháng. Qua nghiên cứu hồ sơ Tòa án X nhận thấy tài sản mà bị can A chiếm đoạt thuộc quyền sở hữu của Bộ CHQS tỉnh M, tuy nhiên tại thời điểm xảy ra tội phạm thì tài sản đó đang thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ H – là công ty dân sự, công ty H thuê tài sản của Bộ CHQS tỉnh M để làm việc (theo Hợp đồng số 01/2019/HĐ ngày 01/01/2019 giữa Bộ CHQS tỉnh M và Công ty H), chủ thể bị thiệt hại trực tiếp đồng thời là bị hại trong vụ án được xác định là Công ty H, nên vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự X theo quy định tại Điều 272 BLTTHS 2015 mà thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân.

Vì lý do trên, ngày 01/11/2019, Tòa án X ra quyết định trả hồ sơ vụ án và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát X1. Tuy nhiên, ngày 05/11/2019, Viện kiểm sát X1 chuyển lại hồ sơ vụ án cho Tòa án X kèm theo Công văn với nội dung: Tài sản bị xâm phạm thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu là Bộ CHQS tỉnh M, Công ty H chỉ có quyền quản lý, sử dụng tài sản chứ không có quyền sở hữu, quyền định đoạt tài sản đó, nên bị hại trong vụ án phải là Bộ CHQS tỉnh M, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo Điều 272 BLTTHS 2015; đồng thời địa điểm nơi xảy ra tội phạm là Khu công nghiệp huyện N – nơi có tài sản bị trộm cắp, thuộc thẩm quyền về lãnh thổ của Tòa án X, nên Tòa án X phải là cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án này. Vậy, trường hợp này nếu sau khi Tòa án X thụ lý lại vụ án lần thứ 02 thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính như thế nào? Về vấn đề này hiện nay chưa có quy định hướng dẫn cụ thể, tuy nhiên có 02 quan điểm như sau:

– Quan điểm thứ nhất: Trường hợp này tương tự trường hợp Tòa án trả hồ sơ vụ án cho VKS để yêu cầu điều tra bổ sung, do đó thời hạn chuẩn bị xét xử của Tòa án khi thụ lý vụ án lần 2 là 30 ngày.

– Quan điểm thứ hai: Tòa án X đã giải quyết vụ án với Quyết định trả hồ sơ vụ án ngày 01/11/2019, do đó khi Tòa án X nhận lại hồ sơ và thụ lý lại vụ án lần 02 thì vụ án này được xem là một vụ án mới, do đó thời hạn chuẩn bị xét xử của lần thụ lý 2 vẫn là 02 tháng (đối với tội phạm nghiêm trọng) như lần thụ lý 1.

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.0159 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm: Hình phạt chính là gì ? Các loại hình phạt chính hiện nay