- 1. Cơ sở pháp lý:
- 2. Quy phạm xung đột là gì?
- 3. Phân loại quy phạm xung đột
- 4. Các loại quy phạm xung đột được xây dựng trong Bộ luật Dân sự năm 2015
- 4.1. Đánh giá quy phạm xung đột trong bộ luật dân sự năm 2005
- 4.2. Đánh giá quy phạm xung đột trong Bộ luật dân sự năm 2015
- 5. Phạm vi điều chỉnh của quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự năm 2015
- 6. Nguyên tắc thoả thuận chọn luật áp dụng
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
1. Cơ sở pháp lý:
2. Quy phạm xung đột là gì?
Quy phạm xung đột là quy phạm ấn định luật pháp nước nào cần áp dụng để giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mỗi khi có sự kiện pháp lý phát sinh cụ thể.
3. Phân loại quy phạm xung đột
Về mặt lý luận, căn cứ vào kỹ thuật xây dựng có hai loại quy phạm xung đột:
+ Quy phạm xung đột một bên (một chiều): Quy phạm xung đột một bên là loại quy phạm chỉ ra loại quan hệ dân sự chỉ áp dụng pháp luật của một nước cụ thể.
+ Quy phạm xung đột hai bên (hai chiều): Quy phạm xung đột hai bên là quy phạm đề ra nguyên tắc chung để các cơ quan tư pháp có thẩm quyền lựa chọn luật của một nước nào đó sẽ được áp dụng để điều chỉnh đối với quan hệ tương ứng.
Phần lớn các quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế là quy phạm xung đột hai bên, bởi lẽ, mặc dù việc xây dựng quy phạm xung đột trong luật quốc gia là ý chí đơn phương của quốc gia nhưng phải tính đến lợi ích của các quốc gia khác. Nói cách khác, việc đưa ra nguyên tắc lựa chọn pháp luật trong quy phạm xung đột phải dựa trên các chuẩn mực pháp lý đã được lý luận về tư pháp quốc tế thừa nhận.
Ngoài ra, theo một số nhà nghiên cứu tư pháp quốc tế Việt Nam, căn cứ vào tính chất của quy phạm xung đột có thể chia thành quy phạm xung đột mệnh lệnh (imperative) và quy phạm xung đột tùy nghi (dispositive)
+ Quy phạm xung đột có tính chất mệnh lệnh là quy phạm xung đột quy định các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải dứt khoát tuân theo, không có quyền thỏa thuận chọn luật để áp dụng.
+ Quy phạm xung đột mang tính chất tùy nghi là quy phạm xung đột cho phép các bên đương sự thỏa thuận chọn pháp luật để áp dụng điều chỉnh các quan hệ dân sự của mình.
4. Các loại quy phạm xung đột được xây dựng trong Bộ luật Dân sự năm 2015
4.1. Đánh giá quy phạm xung đột trong bộ luật dân sự năm 2005
Căn cứ vào tiêu chí phân loại quy phạm xung đột trên có thể thấy, trong Phần thứ bảy BLDS cũ năm 2005 đã xuất hiện cả hai loại quy phạm xung đột nhưng số lượng quy phạm xung đột một bên ngang bằng với số lượng quy phạm xung đột hai bên. Điều này thể hiện rằng, xu thế của các nhà lập pháp khi xây dựng Phần thứ bảy muốn hướng đến việc áp dụng pháp luật Việt Nam càng nhiều càng tốt trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, cũng chính việc xây dựng nhiều quy phạm xung đột một bên nhằm hướng đến áp dụng pháp luật Việt Nam có thể sẽ làm cho mức độ khái quát của điều luật không cao.
Việc xây dựng nhiều quy phạm xung đột một bên nhằm hướng đến việc áp dụng pháp luật Việt Nam càng nhiều càng tốt tỏ ra không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế, bao gồm bốn nguyên tắc cơ bản:
+ Nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý giữa các chế độ sở hữu khác nhau;
+ Nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa công dân nước sở tại với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ nước sở tại;
+ Nguyên tắc công nhận quyền miễn trừ của quốc gia;
+ Nguyên tắc có đi có lại
4.2. Đánh giá quy phạm xung đột trong Bộ luật dân sự năm 2015
Phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, Phần thứ năm BLDS năm 2015 đã tăng cường các quy phạm xung đột hai bên và giảm số lượng các quy phạm xung đột một bên.
Cụ thể: Trong 25 điều luật của Phần thứ năm (từ Điều 663 - Điều 687) ngoài 9 điều luật liên quan đến các nguyên tắc chung (Điều 663 - Điều 671), 16 điều luật còn lại là các quy phạm xung đột dùng để chọn luật áp dụng, trong đó chỉ có 6 khoản là quy phạm xung đột một bên, ấn định luật áp dụng là luật Việt Nam, đối với các quan hệ pháp luật liên quan trực tiếp đến Việt Nam. Cụ thể: đoạn 2 khoản 2 Điều 672, khoản 2 Điều 673, khoản 3 Điều 674, khoản 2 Điều 675, khoản 3 Điều 676, khoản 5 Điều 683.
Như vậy, so với Phần thứ bảy của BLDS năm 2005 thì số lượng quy phạm xung đột một bên đã giảm đi rất nhiều. Điều này thể hiện sự thay đổi trong nhận thức của nhà làm luật, đưa các quy phạm xung đột của Việt Nam phù hợp hơn với các chuẩn mực pháp lý quốc tế, đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế. Mặt khác, quan trọng hơn, làm cho pháp luật Việt Nam có nhiều cơ hội được áp dụng hơn trong thực tiễn bởi lẽ pháp luật Việt Nam do quy phạm xung đột một bên dẫn chiếu đến chỉ có cơ hội áp dụng khi quy phạm xung đột được sử dụng chọn luật là quy phạm xung đột của Việt Nam. Trong khi đó, những quy phạm xung đột một bên trong BLDS năm 2005 chỉ là quy phạm xung đột của tư pháp quốc tế Việt Nam, chỉ có cơ hội áp dụng khi quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài diễn ra tại Việt Nam hoặc tranh chấp liên quan đến quan hệ đó thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Việt Nam[3]. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các quy phạm xung đột của BLDS năm 2005 chưa có nhiều cơ hội áp dụng trong suốt mười năm tồn tại của mình.
Như vậy, với việc giảm quy phạm xung đột một bên và tăng cường số lượng các quy phạm xung đột hai bên, BLDS năm 2015 đã khắc phục hạn chế của BLDS năm 2005 về mặt kỹ thuật lập pháp, đồng thời tạo cơ hội cho pháp luật nội dung của Việt Nam được lựa chọn áp dụng. Điều này cũng góp phần làm cho tư pháp quốc tế Việt Nam phù hợp hơn với các chuẩn mực pháp lý quốc tế.
5. Phạm vi điều chỉnh của quy phạm xung đột trong Bộ luật Dân sự năm 2015
Theo mô hình tư pháp quốc tế Việt Nam hiện nay, hệ thống các quy phạm xung đột được xây dựng theo hướng không cần có một đạo luật riêng điều chỉnh về tư pháp quốc tế mà các quy phạm xung đột sẽ được quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau, từ BLDS là luật chung đến các luật chuyên ngành như Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Thương mại, Luật Trọng tài thương mại... Chính vì vậy, phạm vi điều chỉnh của các quy phạm xung đột sẽ khác nhau phụ thuộc vào văn bản pháp luật mà nó được chứa đựng trong đó.
Với tư cách là văn bản pháp luật chung của tư pháp quốc tế Việt Nam, các quy phạm xung đột chứa đựng trong BLDS năm 2015 cũng có phạm vi điều chỉnh riêng, phù hợp với phạm vi điều chỉnh của BLDS năm 2015. Theo đó, phạm vi điều chỉnh của các quy phạm xung đột trong BLDS năm 2015 được xác định gồm hai nhóm chính là quy phạm xung đột xác định pháp luật áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân và quy phạm xung đột xác định luật áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân.
Về cơ bản, BLDS năm 2015 đã xây dựng được một số lượng các quy phạm xung đột đáng kể, khái quát được phần lớn các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cơ bản nhất bởi những quan hệ đặc thù, cụ thể khác đã được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Phạm vi điều chỉnh của các quy phạm xung đột tại Phần thứ năm đã bao trùm được phần lớn các quan hệ dân sự cơ bản được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật nội dung trong các phần trước của BLDS năm 2015. Mô hình của BLDS năm 2015 về cơ bản cũng tương đồng với giải pháp được lựa chọn ở nhiều quốc gia trên thế giới không ban hành đạo luật tư pháp quốc tế riêng như Pháp, Liên bang Nga…
So với BLDS cũ năm 2005, phạm vi điều chỉnh của các quy phạm xung đột tại Phần thứ năm của BLDS năm 2015 đã được mở rộng để đảm bảo sự tương đồng với các quy phạm pháp luật nội dung và đây cũng là một trong những điểm tiến bộ của BLDS năm 2015.
Trong tương quan so sánh với những nội dung quy định dành cho các quan hệ dân sự trong nước, có thể thấy rằng, phạm vi điều chỉnh của các quy phạm xung đột trong BLDS cũ năm 2005 hẹp, không đủ cơ sở pháp lý để điều chỉnh các tình huống quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong thực tế. Nhiều vấn đề được BLDS điều chỉnh đối với quan hệ trong nước nhưng chưa có quy phạm xung đột điều chỉnh như thực hiện công việc không có ủy quyền, được lợi không có căn cứ pháp luật hoặc đã có văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh nhưng chưa được BLDS quy định các nguyên tắc chung trong chọn luật áp dụng như quan hệ hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài, quan hệ thương mại, quan hệ trọng tài…
Cụ thể: Thực hiện công việc không có ủy quyền là một trong những nội dung được BLDS cũ năm 2005 điều chỉnh (từ Điều 594 - Điều 598) với tư cách là một giao dịch dân sự làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ. Trên thực tế quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền có yếu tố nước ngoài (đặc biệt là yếu tố chủ thể nước ngoài) là hoàn toàn có thể xảy ra nhưng BLDS cũ năm 2005 còn thiếu quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ thực hiện công việc không có sự ủy quyền của người khác; tương tự, hưởng lợi không có căn cứ pháp luật được điều chỉnh tại Điều 247 BLDS cũ năm 2005 nhưng không có quy phạm xung đột chọn luật áp dụng trong trường hợp quan hệ này có yếu tố nước ngoài. Khắc phục hạn chế này, BLDS năm 2015 đã bổ sung Điều 686 về chọn luật điều chỉnh quan hệ thực hiện công việc không có uỷ quyền. Tương tự như thế là Điều 685 về chọn luật điều chỉnh nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
6. Nguyên tắc thoả thuận chọn luật áp dụng
Nguyên tắc thoả thuận chọn luật áp dụng luôn là một trong những nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế để chọn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nguyên tắc này lần đầu tiên được quy định trong tư pháp quốc tế Việt Nam tại Điều 769 BLDS cũ năm 2005 với nhiều điểm hạn chế cần khắc phục. Nhằm tiếp tục ghi nhận và mở rộng việc áp dụng nguyên tắc chọn luật áp dụng, góp phần hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột của tư pháp quốc tế Việt Nam, BLDS năm 2015 đã có nhiều tiến bộ quan trọng trong việc ghi nhận nguyên tắc này. Cụ thể:
- Về phạm vi các quan hệ được thoả thuận chọn luật áp dụng: BLDS cũ năm 2005 chỉ quy định quyền thoả thuận chọn luật áp dụng đối với quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài (Điều 769) và nguyên tắc này tiếp tục được ghi nhận tại Điều 683 BLDS năm 2015.
Bên cạnh đó, BLDS năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng nguyên tắc thoả thuận chọn luật đối với quan hệ thực hiện công việc không có uỷ quyền (Điều 686) và quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Điều 687). Việc mở rộng phạm vi áp dụng của nguyên tắc thoả thuận chọn luật áp dụng là phù hợp với xu thế phát triển của tư pháp quốc tế Việt Nam trong giai đoạn sắp tới, bởi lẽ nguyên tắc này đã được ghi nhận rất rộng rãi trong pháp luật ở nhiều nước, đặc biệt là những nước đã ban hành đạo luật riêng về tư pháp quốc tế.
So với tư pháp quốc tế các nước, phạm vi áp dụng nguyên tắc thoả thuận chọn luật áp dụng của BLDS năm 2015 vẫn còn hẹp bởi lẽ các bên chủ thể của nhiều quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khác đều có quyền thoả thuận chọn luật áp dụng như quan hệ thừa kế theo di chúc, quan hệ lao động,… Những quan hệ này, BLDS năm 2015 hoặc chưa quy định quyền thoả thuận chọn luật áp dụng hoặc không xây dựng quy phạm xung đột chọn luật áp dụng và đây cũng là một trong những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột của tư pháp quốc tế Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.
- Về phạm vi những vấn đề được thoả thuận lựa chọn pháp luật áp dụng trong trường hợp được chọn luật áp dụng: Đối với quy định duy nhất về quyền thoả thuận chọn luật áp dụng được quy định tại Điều 769 BLDS cũ năm 2005 cho thấy, đây là quy định có rất nhiều hạn chế và trên thực tế quy định này chưa được áp dụng để chọn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng tại Việt Nam mà một trong những nguyên nhân quan trọng chính là phạm vi các bên chủ thể hợp đồng được phép thoả thuận chọn luật.
Cụ thể: Khoản 1 Điều 769 chỉ cho phép các bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng; còn đối với vấn đề hình thức hợp đồng thì các bên không được thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng mà phải tuân theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng (Điều 770) hoặc vấn đề xác định nơi giao kết hợp đồng trong trường hợp giao kết hợp đồng vắng mặt thì phải tuân theo pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi có trụ sở chính của pháp nhân là bên đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 771).
Bên cạnh đó, quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng của các bên còn bị hạn chế hay nói cách khác, bị “tước bỏ”, ngay cả trong những vấn đề luật cho phép lựa chọn luật áp dụng. Cụ thể: đoạn 2 khoản 1 Điều 769 BLDS cũ năm 2005 quy định nếu hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng của các bên cũng sẽ vô hiệu do điều khoản về bảo lưu trật tự công cộng như quy định tại Điều 759 BLDS cũ năm 2005: “nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hòa XHCN Việt Nam” và một số văn bản pháp luật khác với cụm từ tương tự. Các quy định này cho thấy dường như nhà làm luật có khuynh hướng giới hạn đến mức có thể phạm vi những vấn đề của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài mà các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng và điều này trái với xu thế của tư pháp quốc tế thế giới, đặc biệt là Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế vốn là một Công ước mang tính phổ cập toàn cầu.
Khắc phục những hạn chế của BLDS cũ năm 2005, Điều 683 BLDS năm 2015 đã mở rộng phạm vi các vấn đề trong quan hệ hợp đồng mà các bên được thoả thuận chọn luật áp dụng. Cụ thể: Theo quy định tại khoản 1 Điều 683: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng”. Như vậy, phạm vi thoả thuận luật áp dụng là toàn bộ các vấn đề có liên quan đến quan hệ hợp đồng trừ hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó. Điều này có nghĩa là nếu luật áp dụng cho hợp đồng là luật do các bên thoả thuận thì luật này cũng sẽ được sử dụng để xác định tính hợp pháp của hợp đồng.
Nói gọn lại, Điều 683 BLDS năm 2015 đã được xây dựng theo hướng mở rộng tối đa phạm vi các bên chủ thể của hợp đồng được thoả thuận chọn luật áp dụng và điều này phù hợp với pháp luật quốc tế.
Công ước Rome ngày 19/6/1980 về Luật áp dụng đối với những nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cũng như trong Điều 3 Nghị định Rome I (Regulation (EC) No 593/2008 of the European Parliament and of the Council of 17 June 2008 on the law applicable to contractual obligations), Nghị định điều chỉnh về nghĩa vụ hợp đồng tại Liên minh châu Âu thay thế Công ước Rome 1980 quy định:“Hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật do các bên thỏa thuận lựa chọn. Sự lựa chọn phải được thể hiện rõ ràng hoặc được chứng minh rõ ràng bởi các điều khoản trong hợp đồng hoặc tùy theo từng trường hợp cụ thể”.
Tương tự, các công ước quốc tế đa phương được ban hành trong khuôn khổ của Hội nghị La Haye về tư pháp quốc tế như: Công ước La Haye ngày 15/6/1955 về Luật áp dụng đối với mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước La Haye ngày 14/3/1978 về Luật áp dụng cho chi nhánh, văn phòng đại diện, Công ước La Haye ngày 22/12/1986 về Luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng quy định tương tự. Điều 2 Công ước La Haye ngày 15/6/1955 quy định: “Hợp đồng mua bán chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật của nước được chỉ định bởi các bên giao kết”.
Luật hợp đồng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1999 cũng thừa nhận nguyên tắc thỏa thuận chọn luật áp dụng trong các hợp đồng quốc tế mà không giới hạn phạm vi thoả thuận lựa chọn.
Tóm lại, do điều kiện khách quan, ngay từ đầu tư pháp quốc tế Việt Nam đã theo đuổi mô hình không ban hành đạo luật tư pháp quốc tế riêng mà quy định các quy phạm xung đột trong nhiều văn bản pháp luật, với vị trí trung tâm là BLDS. Các dấu hiệu lập pháp gần đây cho thấy mô hình này sẽ tiếp tục được duy trì trong giai đoạn sắp tới khi các điều kiện để ban hành đạo luật tư pháp quốc tế vẫn chưa xuất hiện đầy đủ. Do đó, việc hoàn thiện hệ thống quy phạm xung đột của BLDS năm 2015 là một nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động lập pháp Việt Nam nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho quá trình hội nhập quốc tế trong giai đoạn sắp tới.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập