1. Giới thiệu tác giả
Sổ tay công chứng viên quyển 6 tập 1,2 – Những vấn đề cần lưu ý khi công chứng một số loại giao dịch khác là hai trong số những cuốn sách cùng chuyên mục sổ tay công chứng viên do TS. Tuấn Đạo Thanh biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách
%20Nh%E1%BB%AFng%20v%E1%BA%A5n%20%C4%91%E1%BB%81%20c%E1%BA%A7n%20l%C6%B0u%20%C3%BD%20khi%20c%C3%B4ng%20ch%E1%BB%A9ng%20m%E1%BB%99%20s%E1%BB%91%20lo%E1%BA%A1i%20giao%20d%E1%BB%8Bch%20kh%C3%A1c.jpg)
Sổ tay công chứng viên – Những vấn đề cần lưu ý khi công chứng một số loại giao dịch khác
Tác giả: TS. Tuấn Đạo Thanh
Nhà xuất bản Tư pháp
3. Tổng quan nội dung sách
Sau gần ba mươi năm hình thành và phát triển, cho đến thời điểm hiện tại công chứng đã khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong đời sống xã hội ở Việt Nam. Công chứng viên với tư cách là người làm chứng trung thực và ngay thẳng trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại... đã từng bước thể hiện được vai trò ngăn ngừa tranh chấp cũng như cung cấp nguồn chứng cứ đáng tin cậy phục vụ cho hoạt động xét xử của Tòa án.
Tuy nhiên, do hiện nay chúng ta vẫn ở trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện thiết chế công chứng nên những sai sót, vấp ngã của công chứng viên trong hoạt động chuyên môn là không thể tránh khỏi. Thêm vào đó, hoạt động công chứng lại có phạm vi rất rộng, liên quan tới nhiều ngành luật khác nhau nên đòi hỏi công chứng viên không những phải có được kiến thức chuyên môn tốt, kinh nghiệm công tác dồi dào mà còn phải “sở hữu” một bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, khả năng giao tiếp tốt.
Từ kinh nghiệm công tác thực tế của bản thân với tư cách công chứng viên cũng như căn cứ vào những quy định của pháp luật có liên quan, chúng tôi tạm chia các giao dịch thường có sự xuất hiện của công chứng viên thành một số nhóm cơ bản, như sau:
- Các giao dịch liên quan đến các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
- Các giao dịch trong lĩnh vực thừa kế;
- Các giao dịch liên quan tới chuyển dịch sở hữu chủ đối với tài sản.
- Các giao dịch có đối tượng là công việc.
- Các giao dịch liên quan tới chế độ tài sản chung riêng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng.
- Và một số loại giao dịch khác như: hợp tác kinh doanh; góp vốn; mượn tài sản, thuê, thuê lại tài sản; giao dịch có yếu tố nước ngoài; mua bán tài sản đấu giá; văn bản sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ giao dịch, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản và công chứng bản dịch.
Với nhãn quan của công chứng viên, tác giả cố gắng tóm tắt trình bày một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn khi tiến hành công chứng những giao dịch liên quan tới từng lĩnh vực như đã liệt kê ở phần trên. Hy vọng cuốn sách giúp ích phần nào cho công tác đào tạo, giảng dạy công chứng viên cũng như quá trình hành nghề của các công chứng viên đương nhiệm.
Sách Sổ tay công chứng viên (quyển thứ 6 tập) Những vấn đề cần lưu ý khi công chứng một số loại giao dịch khác Tập 1 gồm 5 nội dung sau:
Chương I. Công chứng hợp đồng hợp tác kinh doanh
Chương II. Công chứng hợp đồng góp vốn
Chương III. Công chứng hợp đồng mượn tài sản
Chương IV. Công chúng hợp đồng thuê, thuê lại tài sản
Chương V. Công chúng giao dịch có yếu tố nước ngoài
Tập 2: Sổ tay công chứng viên (quyển thứ 6) Những vấn đề cần lưu ý khi công chứng một số loại giao dịch khác Tập 2 gồm 4 nội dung chính:
Chương VI. Công chứng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá
Chương VII. Công chứng văn bản sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ giao dịch
Chương VIII. Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản
Chương IX. Công chứng bản dịch
Luật Minh Khuê trích dẫn một phần nhỏ nội dung trong tập 1 của Sổ tay Công chứng viên - Công chứng hợp đồng mượn tài sản tại tại Chương III của cuốn sách để bạn đọc có thể tham khảo:
"Nhìn một cách khái quát nhất, mượn tài sản không phải là một loại hợp đồng có vai trò quan trọng trong hoạt động công chứng. Nói theo cách khác, từ kinh nghiệm công tác thực tế của bản thân với tư cách công chứng viên, chúng tôi thấy hiếm khi người yêu cầu công chứng đề nghị công chứng một bản hợp đồng mượn tài sản, cho dù tài sản cho mượn có giá trị lớn hoặc thời gian cho mượn bị kéo dài…. Tuy vậy, trong phần viết này, xuất phát từ bản chất pháp lý của hợp đồng mượn tài sản, chúng tôi cũng cố gắng đưa ra một số lưu ý dành cho công chứng viên khi công chứng loại hợp đồng này.
Về mặt ngữ nghĩa, theo Đại từ điển tiếng Việt do nhà xuất bản văn hóa – thông tin ấn hành năm 1998 thì “cho mượn” là động từ dùng để chỉ việc “Đưa cho dùng tạm một thời gian, sau đó trả lại” trong khi “mượn” là động từ dùng để chỉ việc “Xin phép tạm dùng của người khác trong một thời gian nhất định”. Đứng trên phương diện pháp lý, “Cho mượn tài sản” được hiểu là “Chủ sở hữu tài sản hoặc người chiếm hữu hợp pháp của chủ sở hữu tài sản cho bên mượn tài sản sử dụng trong thời hạn do các bên thỏa thuận mà không phải trả tiền cho việc sử dụng tài sản đó.
Đối tượng của quan hệ cho mượn là vật đặc định và không tiêu hao “(xem thêm Hợp đồng mượn tài sản)” (xem từ điển luật học do nhà xuất bản từ điển bách khoa - Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006). Tham khảo toàn văn nội dung Từ điển Luật học do nhà xuát bản từ điển bách khoa – Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006, chúng tôi thấy bên cạnh định nghĩa “cho mượn tài sản”, các luật gia còn đưa ra khái niệm “hợp đồng mượn tài sản”. Cụ thể, “Hợp đồng mượn tài sản là “Một loại hợp đồng dân sự thông dụng, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.
Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản là những vật không tiêu hao.
Bên mượn tài sản có nghĩa vụ gửi giữ, bảo quản tài sản mượn như tài sản của chính mình, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản, nếu tài sản hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa, không được cho mượn lại tài sản, trả lại tài sản đúng thời hạn, nếu không có thỏa thuận thì phải trả lại tài sản ngay sau khi đạt được mục đích mượn, bồi thường thiệt hại nếu làm hư hỏng, mất mát tài sản mượn nhưng không phải chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên và có quyền được sử dụng tài sản mượn theo đúng mục đích đã thỏa thuận, yêu cầu bên cho mượn thanh toán chi phí hợp lý về việc sửa chữa hoặc làm tăng giá trị tài sản mượn nếu có thỏa thuận. Bên cho mượn có nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản và khuyết tật của tài sản nếu có; thanh toán cho bên mượn chi phí sửa chữa, chi phí làm tăng giá trị tài sản nếu có thỏa thuận; bồi thường thiệt hại cho bên mượn nếu biết tài sản có khuyết tật mà không báo cho bên mượn dẫn đến gây thiệt hại cho bên mượn, trừ những khuyết tật mà bên mượn biết hoặc phải biết và có quyền đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại, mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý”.
Từ những khai niệm xoay quanh việc mượn và cho mượn tài sản nói chung hay hợp đồng tài sản nói riêng, chúng ta đưa ra một số nhận xét ban đầu như sau:
- Đây là giao dịch được giao kết giữa hai bên, bao gồm bên cho mượn và bên mượn tài sản;
- Bên cho mượn tài sản có thể là chủ sở hữu tài sản hoặc người đang chiếm hữu hợp pháp khối tài sản đó;
- Chỉ có tài sản đăc định và không tiêu hao mới có thể trở thành đối tượng của giao dịch cho mượn;
- Thời hạn cho mượn là một trong những nội dung không thể thiếu trong giao dịch cho mượn tài sản;
- Bên mượn tài sản không phải thanh toán cho bên cho mượn bất cứ khoản chi phí nào cho việc sử dụng tài sản mượn.
Đứng trên khía cạnh pháp lý, khái niệm đầu tiên về hợp đồng mượn tài sản được các nhà làm luật chính thức ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 1995. Cụ thể, Điều 515 Bộ luật Dân sự năm 1995 định nghĩa “hợp đồng mượn tài sản” như sau “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.
……………
Ở thời điểm hiện tại, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chính thức được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Các nhà làm luật sử dụng toàn bộ nội dung Mục 6 Chương XVI, phần thứ ba, Bộ luật dân sự năm 2015, từ Điều 494 đến Điều 499 gồm 6 điều luật, được dùng để quy định về “Hợp đồng mượn tài sản”; Điều 495 về “Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản”; Điều 496 mô tả “nghĩa vụ của bên mượn tài sản”; Điều 497 đề cập tới “Quyền của bên mượn tài sản”; Điều 498 xác định “Nghĩa vụ của bên cho mượn tài sản” trong khi “Quyền của bên cho mượn tài sản” là nội dung Điều 499. Trở ại với nội dung Điều 494 Bộ luật dân sự năm 2015 đưa ra định nghĩa “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được, chúng ta thấy khái niệm “hợp đồng mượn tài sản” theo quy định này không có gì khác biệt lớn trong tương quan so sánh với khái niệm tương tự đẫ được ghi nhận tại Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 1995.
Từ những quy định của pháp luật thực định qua từng thời kỳ xoay quanh hợp đồng m ượn tài sản, chúng ta có thể đưa ra những nhận xét như sau:
- Nhìn một cách khái quát nhất, những quan điểm khoa học xoay quanh hợp đồng mượn tài sản đã được các nhà làm luật tiếp thu, chuyển hóa gần như toàn bộ vào trong pháp luật thực định.
- Các quy định của pháp luật liên quan tới hợp đồng mượn tài sản không có nhiều thay đổi trong tương quan so sánh giữa nội dung Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 và Bộ luật dân sự năm 2015.
- Từ khái niệm hợp đồng mượn tài sản được ghi nhận trong pháp luật dân sự qua mỗi thời kỳ, chúng tôi thấy về mặt bản chất pháp lý, hợp đồng mượn tài sản là hình thức hợp đồng không có đền bù.
- Theo lẽ thông thường, hợp đồng mượn tài sản sẽ được xác lập chủ yếu dựa trên mối quan hệ cá nhân (như bạn bè, họ hàng…) hoặc tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn.
- Đứng trên phương diện khoa học pháp lý, dường như hợp đồng mượn tài sản là hợp đồng thực tế, tức là loại hợp đồng này phát sinh hiệu lực khi bên cho mượn giao tài sản mượn cho bên mượn.
Như trên đã trình bày, có thể nói tính chất không đền bù là một trong những nét đặc trưng pháp lý nổi trội nhất của hợp đồng mượn tài sản."
4. Đánh giá bạn đọc
Về mặt hình thức: Như lời dẫn mở đầu của sách tác giả đã nêu các vấn đề được giải quyết trong Tuyển tập Sổ tay công chứng của mình, quyển 6 (tập 1,2) đề cập đến những lưu ý khi công chứng một số loại giao dịch khác. Trong đó tác giả đã trình bày ở tập 1 là 5 chương và trình bày ở tập 2 là 4 chương tương ứng mỗi chương là một loại giao dịch. Rất thuận tiện cho người đọc theo dõi.
Về mặt nội dung: Tác giả dành nhiều thời lượng để trình bày, phân tích chuyên sâu về vấn đề lý luận, quy định pháp luật về bản chất của các loại giao dịch trước khi đưa ra những lưu ý đối với công chứng viên trong nghiệp vụ thực hiện công chứng những loại giao dịch này. Giúp người đọc hiểu sâu được bản chất của vấn đề hơn.
5. Kết luận
Bằng kinh nghiệm thực tiễn của mình và tâm huyết tìm tòi nghiên cứu TS Tuấn Đạo Thanh đã biên soạn Tuyển tập Sổ tay công chứng viên rất hữu ích với bạn đọc. Cuốn sách không chỉ là tài liệu phục vụ trong giảng dạy mà còn là là một tư liệu nên có đối với người có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật công chứng.
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!