Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vỉ phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ỷ nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Luật sư có quyền thu thập chứng cứ không?
Luật Minh Khuê cung cấp cho quý khách hàng Mẫu biên bản giao nhận tài liệu chứng cứ và hướng dẫn cách viết theo đúng quy định của pháp luật hiện hành (Mẫu số 01-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
Thưa luật sư. Luật sư cho tôi hỏi: Những tin nhắn, cuộc ghi âm nói chuyện, từ số điện thoại có mang tính chất là bằng chứng kết tội được không? Có cần nhân chứng, vật chứng để thuyết phục kết tội không ?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (BLTTDS 2004) thì các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp; cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
Trong quá trình xử lý vụ án hành chính, câu hỏi về tính chất của thư điện tử, thường được gọi là email, liệu có được coi là chứng cứ hợp lệ hay không, đã trở thành một vấn đề được quan tâm đặc biệt. Câu hỏi này không chỉ đặt ra về tính chất pháp lý của email mà còn đề cập đến việc ứng dụng các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử trong lĩnh vực tố tụng hành chính.
đương sự trong vụ án dân sự có quyền đề nghị Tòa án giúp đỡ trong việc thu thập chứng cứ, nhưng có được yêu cầu VKS thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự? Cùng tham khảo nội dung chỉ tiết trong bài viết dưới đây:
Chứng cứ có thể được hiểu là những gì có thật, tồn tại khách quan và được thu thập một cách hợp pháp theo quy định. Vậy thì quy định về chứng cứ theo Luật cạnh tranh hiện nay như thế nào? Cùng Luật Minh Khuê tìm hiểu về vấn đề này ở nội dung bài viết dưới đây. Cụ thể như sau:
Không phải mọi tài liệu, lời khai, vật chứng hay dữ liệu điện tử được thu thập đều có thể được chấp nhận làm chứng cứ. Điều này bởi vì nếu chứng cứ được thu thập trái pháp luật — vi phạm trình tự, thủ tục hoặc xâm phạm quyền con người, quyền công dân — thì việc sử dụng chúng sẽ làm tổn hại đến tính công bằng, khách quan của tố tụng, thậm chí dẫn đến việc kết án người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, pháp luật Việt Nam đã thiết lập nguyên tắc loại trừ chứng cứ — tức những chứng cứ mặc dù có thật nhưng nếu được thu thập không đúng quy định thì không được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án. Việc hiểu rõ nguyên tắc này — khách thể áp dụng, nội dung và cơ chế thực hiện — là rất cần thiết để bảo đảm quyền con người, quyền của người bị buộc tội, và giữ vững tính thượng tôn pháp luật trong tố tụng hình sự hiện đại.
Trong một vụ án hình sự, để thực hiện tốt nhất vai trò của mình luật sự cần quan tâm đến kỹ năng thu thập chứng cứ, bởi càng tìm ra được nhiều chứng cứ có lợi thì khả năng gỡ tội, giảm nhẹ tội hoặc bảo vệ được quyền lợi cho khách hàng càng cao
Cách xác định chứng cứ trong vụ việc dân sự theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sẽ được đề cập trong nội dung bài viết của Luật Minh Khuê dưới đây.
Trong hệ thống quân đội của một quốc gia, vai trò của cơ quan chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh là vô cùng quan trọng. Được giao nhiệm vụ quản lý, tổ chức và chỉ đạo các hoạt động quân sự trong phạm vi cụ thể của mình, cơ quan này đóng vai trò không thể thay thế trong việc duy trì sự ổn định và an ninh quốc gia. Dưới đây là bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Cơ quan chỉ đạo Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh thực hiện xuất kho vật chứng. Mong rằng thông tin chúng tôi đưa ra sẽ hữu ích cho quý khách hàng.
Theo quy định của Điều 92 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, lời khai của bị hại được xem xét như một nguồn thông tin quan trọng về vụ án và có thể được sử dụng như một phần của hồ sơ điều tra. Bị hại có quyền trình bày những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm hoặc vụ án, cũng như mối quan hệ của họ với người bị buộc tội.
Hiện nay trình độ nhận thức của mọi người đã được nâng cao do đó khi xảy ra tranh chấp ai cũng muốn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo đảm quyền và lợi ích của mình. Tuy nhiên khi nảy sinh ra vấn đề cần được cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết mọi người lại không muốn giao nộp tài liệu, chứng cứ có thể do họ lo sợ vì một lý do nào đó mà cơ quan nhà nước làm mất giấy tờ của họ,… Vậy làm thế nào để giải quyết quyền lợi của họ mà không sợ tài liệu, chứng cứ bị mất. Với bài viết này Luật Minh Khuê cung cấp cho bạn đọc biểu mẫu giao nhận tài liệu, chứng cứ dùng trong tố tụng:
Thực tiễn xét xử án hình sự, chỉ những chứng cứ về các tình tiết giảm nhẹ có xác nhận đầy đủ thì tòa mới chấp nhận, còn các chứng cứ liên quan đến việc định tội, định khung hình phạt mà luật sư đưa ra thường bị tòa xem nhẹ, vì sao?
Luật Minh Khuê xin giới thiệu: Mẫu biên bản giao nhận chứng cứ (Mẫu số 1) ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Thưa luật sư, tôi có câu hỏi muốn được tư vấn như sau: email, tin nhắn điện thoại, các nội dung post trên blog, mạng xã hội (Facebook, Twitter…) có thể sử dụng làm chứng cứ giải quyết vụ việc dân sự hay không? Hiện nay tố tụng dân sự quy định như thế nào về việc này. Tôi xin cảm ơn !
Trong quá trình diễn ra việc hỏi tại phiên tòa, vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét như quy định tại các điều 254, 255, 256 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bài viết phân tích cụ thể:
Theo Thông báo số 30/2020/TB-LPQT ngày 30/3/2020 của Bộ Ngoại giao về hiệu lực của điều ước quốc tế, Công ước thu thập chứng cứ ở nước ngoài có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 03/5/2020. Nội dung chính của Công ước bao gồm những vấn đề gì?
Không phải tất cả dữ liệu điện tử thu thập được trong quá trình điều tra đều có thể trở thành chứng cứ. Để có giá trị chứng cứ thì dữ liệu điện tử phải đáp ứng những điều kiện nhất định và phải chứng minh được về giá trị chứng cứ của dự liệu điện tử trước tòa