1. Hợp đồng mua bán ô tô có cần công chứng hoặc chứng thực hay không?
Dựa vào Điểm 3 của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 41:2016/BGTVT về biển báo đường bộ, xe ô tô được xác định là phương tiện cơ giới tham gia giao thông trên đường bộ. Chúng thường được gọi là xe con và được xác định thông qua việc có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phù hợp với quy định của cơ quan quản lý giao thông đường bộ. Xe ô tô có thể sử dụng để vận chuyển người (không quá 9 chỗ ngồi, bao gồm cả người lái) hoặc hàng hóa (trọng lượng hàng hóa không vượt quá 1.500 kg). Loại xe ô tô con còn bao gồm cả xe máy ba bánh có khả năng vận chuyển hàng hóa và có trọng lượng toàn bộ không vượt quá 1.500 kg.
Trong thời đại hiện tại, trên thị trường có đa dạng hãng sản xuất và mẫu xe ô tô khác nhau. Một số hãng xe nổi tiếng bao gồm Toyota, Hyundai, Mazda, Ford, Audi, Mercedes Benz, và nhiều hãng khác. Lựa chọn một chiếc xe ô tô phù hợp thường phụ thuộc vào nhu cầu của gia đình hoặc cá nhân.
Hợp đồng mua bán xe ô tô được xem như một hợp đồng mua bán tài sản. Theo quy định tại Điều 430 của Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng mua bán ô tô là một thỏa thuận giữa các bên tham gia, trong đó bên bán xe ô tô chuyển quyền sở hữu xe cho bên mua. Bên mua xe phải thanh toán một khoản tiền hoặc lợi ích nhất định theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Đối tượng của hợp đồng mua bán xe ô tô chính là xe ô tô mà các bên đã thỏa thuận để chuyển quyền sở hữu.
Dựa vào điểm b, khoản 2 của Điều 8 trong Thông tư 58/2020/TT-BCA, được ban hành vào ngày 16/6/2020, thì hợp đồng mua bán hoặc tặng xe ô tô từ cá nhân phải được công chứng tại một tổ chức hoạt động công chứng hoặc được chứng thực bởi cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền. Trừ trường hợp đặc biệt, khi giao dịch mua bán hoặc tặng xe ô tô của cá nhân thuộc về cơ quan lực lượng vũ trang hoặc người nước ngoài làm việc tại cơ quan đại diện theo quy định của pháp luật, thì việc đăng ký xe sẽ dựa trên địa chỉ của cơ quan, tổ chức, hoặc đơn vị mà cá nhân đó làm việc, và cần có giấy xác nhận từ phía cơ quan, tổ chức, hoặc đơn vị công tác đó.
Trong trường hợp mà việc công chứng hoặc chứng thực hợp đồng mua bán xe ô tô là bắt buộc nhưng không được thực hiện, thì người tham gia trong quá trình giao dịch mua bán xe ô tô có thể đối mặt với các rủi ro pháp lý liên quan đến tính hiệu lực và hình thức của hợp đồng đó.
2. Điều kiện để hợp đồng mua bán ô tô có hiệu lực
Để hợp đồng mua bán xe ô tô có hiệu lực, các điều kiện tương tự cần phải được tuân theo như trong hợp đồng mua bán tài sản. Trước hết, cần xem xét xem loại xe ô tô trong hợp đồng có bị cấm hoặc hạn chế mua bán hay không. Cần đảm bảo rằng xe ô tô thuộc quyền sở hữu của bên bán hoặc chủ thể đại diện cho bên bán. Hơn nữa, hợp đồng mua bán ô tô phải được lập thành văn bản và thực hiện quy trình công chứng.
Ngoài ra, để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng mua bán ô tô, cần phải tuân theo các điều kiện chung liên quan đến giao dịch dân sự theo Điều 117 của Bộ luật dân sự 2015, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, tất cả các bên tham gia vào hợp đồng mua bán ô tô phải đáp ứng đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi dân sự tương ứng.
- Thứ hai, các bên tham gia vào việc ký kết hợp đồng phải làm điều đó hoàn toàn dưới tinh thần tự nguyện, không bị ép buộc bởi bất kỳ bên thứ ba nào.
- Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán ô tô không được vi phạm các quy định của luật và không vi phạm đạo đức xã hội.
Tóm lại, hoạt động mua bán xe ô tô cần tuân theo các điều kiện liên quan đến nội dung và các bên tham gia cần đáp ứng các yêu cầu tương tự như trong hợp đồng mua bán tài sản. Điều quan trọng là hợp đồng mua bán xe ô tô phải được công chứng hoặc chứng thực để đảm bảo tuân thủ các yêu cầu về hình thức theo luật.
>> Xem thêm: Phí chứng thực hợp đồng mua bán xe máy cũ là bao nhiêu tiền?
3. Thẩm quyền chứng thực hợp đồng mua bán xe ô tô theo quy định
Dựa theo quy định tại Điều 5 của Nghị định 23/2015/NĐ-CP về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực, các cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm sau đây:
- Phòng Tư pháp của huyện, quận, thị xã, và thành phố thuộc tỉnh (dưới đây gọi là Phòng Tư pháp) được giao thẩm quyền và trách nhiệm:
+ Chứng thực bản sao từ bản chính của các giấy tờ và văn bản do cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận; cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài; cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam kết nối với cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc chứng nhận.
+ Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ và văn bản.
+ Chứng thực chữ ký của người thực hiện việc dịch các giấy tờ và văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài.
+ Chứng thực hợp đồng và giao dịch liên quan đến tài sản cố định.
+ Chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia tài sản kế thừa và văn bản khai nhận tài sản kế thừa khi tài sản kế thừa là tài sản cố định.
Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng Tư pháp là người chịu trách nhiệm thực hiện việc chứng thực theo quy định này, họ sẽ ký kết và đóng dấu của Phòng Tư pháp.
- Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, và thị trấn (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) được giao thẩm quyền và trách nhiệm:
+ Chứng thực bản sao từ bản chính của các giấy tờ và văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận.
+ Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ và văn bản, ngoại trừ chữ ký của người dịch.
+ Chứng thực hợp đồng và giao dịch liên quan đến tài sản cố định.
+ Chứng thực hợp đồng và giao dịch liên quan đến việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai.
+ Chứng thực hợp đồng và giao dịch về tài sản nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở.
+ Chứng thực di chúc.
+ Chứng thực văn bản từ chối việc nhận tài sản kế thừa.
+ Chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia tài sản kế thừa và văn bản khai nhận tài sản kế thừa khi tài sản kế thừa là tài sản cố định.
Chủ tịch và Phó Chủ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ thực hiện việc ký kết và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Hơn nữa, trong Công văn 1352/HTQTCT-CT năm 2015 hướng dẫn Điều 5 của Nghị định 23/2015/NĐ-CP về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực, điều quy định về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực được giải thích như sau:
- Về thẩm quyền chứng thực chữ ký trong giấy tờ và văn bản, cả Phòng Tư pháp và UBND cấp xã đều có cùng thẩm quyền chứng thực, bất kể ngôn ngữ được sử dụng trong giấy tờ và văn bản (điểm b, khoản 1 và điểm b, khoản 2).
- Về thẩm quyền chứng thực hợp đồng và giao dịch, Phòng Tư pháp và UBND cấp xã có cùng thẩm quyền trong việc chứng thực hợp đồng và giao dịch liên quan đến động sản, không phụ thuộc vào giá trị của tài sản (điểm d, khoản 1 và điểm c, khoản 2).
- Thêm vào đó, việc chứng thực hợp đồng và giao dịch về tài sản nhà ở thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã, theo quy định của Luật Nhà ở (điểm đ, khoản 2). UBND cấp huyện chỉ thực hiện chứng thực hợp đồng và giao dịch về nhà ở tại đô thị, theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở năm 2005, cho đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2015 (khoản 2, Điều 47).
Do đó, thẩm quyền chứng thực hợp đồng kinh tế mua bán xe ô tô giữa Phòng Tư pháp và UBND cấp xã là tương đương. Vì vậy, bạn có thể lựa chọn để chứng thực hợp đồng mua bán xe ô tô cũ tại cả Phòng Tư pháp hoặc UBND cấp xã, tùy theo sự thuận tiện của bạn.
Mọi thắc mắc về mặt pháp lý vui lòng liên hệ số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Bài viết liên quan: Văn phòng công chứng có chứng thực hợp đồng bất động sản được không?. Xin trân trọng cảm ơn!