Tuyên ngôn của Quốc hội không chỉ là một văn kiện có tính lịch sử mà còn có giá trị trường tồn, là ngọn cờ tư tưởng cho các thế hệ đại biểu Quốc hội nghiên cứu, học tập và vận dụng trong điều kiện mới. Bài viết phân tích nội dung cơ bản của Tuyên ngôn và những giá trị lịch sử, hiện tại của văn kiện này. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6/1/1946 đã đánh dấu một mốc son quan trọng trong việc hình thành thể chế dân chủ của nước ta: Quốc hội Việt Nam ra đời. Kể từ ngày đó đến nay, suốt 65 năm hoạt động, Quốc hội luôn đồng hành cùng dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc với biết bao sự kiện quan trọng. Tuy nhiên có một sự kiện cho đến nay còn ít được các nhà khoa học nghiên cứu là tại phiên họp đầu tiên, ngày 2/3/1946 của Quốc hội khóa I, Quốc hội đã thông qua bản Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam1.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.6162

Đây là văn kiện chính trị, pháp lý đầu tiên được Quốc hội ban hành trong hoàn cảnh đặc biệt. Sau thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, tình hình chính trị ở nước ta có nhiều diễn biến rất phức tạp. Ở miền Nam, thực dân Pháp mở lại cuộc chiến tranh xâm lược lan rộng đến cả Tây Nguyên, Nam Trung bộ và ráo riết chuẩn bị cuộc hành quân mạo hiểm tập kích ra miền Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng và chiếm lại toàn bộ nước ta. Ở miền Bắc, quân Anh đã rút khỏi nước ta, quân Tưởng vẫn đóng từ vĩ tuyến 16 trở ra. Quân Pháp từ Vân Nam trở lại chiếm một số nơi ở vùng Tây Bắc. Các tổ chức đảng Việt Quốc2, Việt Cách3 lợi dụng hoàn cảnh khó khăn gây sức ép với chính quyền cách mạng. Đã có nhiều cuộc tiếp xúc giữa đại diện Chính phủ Việt Nam và đại diện Chính phủ Pháp nhưng không thỏa thuận được giải pháp pháp lý dù là tạm thời.

Dưới góc độ của công pháp quốc tế, Chính phủ Việt Nam vẫn chỉ là Chính phủ lâm thời được thành lập trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra. Trong quá trình đấu tranh, thương lượng với Việt Quốc, Việt Cách, Chính phủ lâm thời cũng đã tự cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, mở rộng thành phần để thu hút thêm một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách. Cách mạng gặp muôn vàn khó khăn. Quan hệ Việt - Pháp đang đứng trước bờ vực của chiến tranh. Trước tình hình đó, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch  Hồ Chí Minh đã cố gắng hoàn tất mọi công việc để tiến hành khai mạc Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội vào ngày 2/3/1946. Tại phiên họp chỉ kéo dài khoảng bốn giờ này, Quốc hội đã làm được nhiều việc quan trọng như xem xét báo cáo của Chính phủ, đồng ý với thỉnh cầu của Chính phủ, “mở rộng số đại biểu thêm 70 người” là “các đồng chí ở hải ngoại về Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội”4, thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Cố vấn đoàn và Kháng chiến ủy viên hội5, thành lập Ban Thường trực Quốc hội, bầu Ban dự thảo Hiến pháp đồng thời Quốc hội “nghe thư ký đọc và thông qua Tuyên ngôn của Quốc hội”6. Tuyên ngôn rất ngắn gọn chỉ gồm 300 từ, nêu khái quát những vấn đề chủ yếu nhất về đường hướng hoạt động của Quốc hội Việt Nam.

Trước hết, cần tìm hiểu về khái niệm “Tuyên ngôn”. Tuyên ngôn (declaration) được hiểu là “bản tuyên bố một phương hướng hành động và phương hướng ấy là lý do để các lực lượng đưa ra tuyên ngôn”7. Một cách hiểu khác rõ ràng hơn, tuyên ngôn là “bản tuyên bố có tính cương lĩnh của một chính đảng, một tổ chức”8. Một cách hiểu tương tự, tuyên ngôn là “nói rõ với công chúng - văn tự để phát biểu ý kiến chính trị của mình”9. Như vậy, tuyên ngôn có thể hiểu với nghĩa phổ quát nhất là một văn bản tuyên bố mang tính chính trị của một tổ chức hoặc lực lượng, thể hiện phương hướng hành động của tổ chức ấy. Ví dụ, Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ (1776), Tuyên ngôn Nhân quyền (1789) của Pháp, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848), Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam (1945), Tuyên ngôn Nhân quyền thề giới (1948)...   

Tìm hiểu nội dung Tuyên ngôn của Quốc hội có thể thấy các nhà lập pháp thuộc thế hệ đầu tiên của nước ta đã có tầm nhìn sáng suốt về sứ mệnh vẻ vang của cơ quan đại diện. Mặc dù chỉ được chuẩn bị trong một thời gian rất gấp do sự thúc bách của hoàn cảnh, nhưng các nhà lập pháp đã thông qua những nội dung quan trọng nhất mang tính nguyên tắc trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam, cụ thể là:

1. Tuyên bố lập nước

Đánh đổ ách thống trị của bọn thực dân đế quốc, giành độc lập cho dân tộc, thành lập nên nước Việt Nam độc lập là mục tiêu của cuộc cách mạng dân tộc đã được đề cập trong Chính cương vắn tắt của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo năm 193010. Để tập hợp mọi lực lượng, ngày 25/10/1941, Việt Nam độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) chính thức tuyên bố thành lập. Tuyên ngôn của Việt Minh nêu rõ “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, đặng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, làm cho nước Việt Nam và cả xứ Đông Dương được hoàn toàn độc lập”11. Tiếp đến, Nghị quyết của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 14, 15/8/1945 tiếp tục nêu rõ “Mục đích cuộc chiến đấu của ta lúc này giành quyền độc lập hoàn toàn”12. Thực hiện chủ trương của Đảng về việc chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Quốc dân Đại hội tại Tân Trào ngày 16, 17/8/1945 cũng đã hiệu triệu nhân dân toàn quốc “giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập”13. Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố với thế giới “khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”14. Ủng hộ quan điểm của Chính phủ lâm thời, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bản Tuyên ngôn của Quốc hội đã viết “Từ khi chiến tranh phát sinh, thì nhân dân Việt Nam vẫn tiếp tục chiến đấu chống Nhật, bên cạnh Đồng minh. Đến khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, dân tộc Việt Nam tổng khởi nghĩa, giật chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”15. Tuyên bố của Quốc hội thể hiện sự nhất quán giữa Quốc hội và Chính phủ trong nhận định về sự kiện lập nước, theo đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), nhân dân ta đã tự giải phóng cho mình “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”16. Việc lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuy có yếu tố quốc tế  thuận lợi là chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, nhưng yếu tố thực lực của nhân dân Việt Nam vẫn là yếu tố mang tính quyết định. Tuyên ngôn của Quốc hội cũng như Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 đã khẳng định địa vị pháp lý độc lập của nước Việt Nam trong bang giao quốc tế và trong giải quyết các vấn đề đối nội. Điều này là rất quan trọng trong hoàn cảnh lúc đó, Việt Nam phải đối phó với nhiều lực lượng có dã tâm tiêu diệt cách mạng non trẻ của ta. Tuyên bố lập nước trong Tuyên ngôn Độc lập, Tuyên ngôn của Quốc hội và việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến tại phiên họp đầu tiên của Quốc hội cũng là cơ sở để Chính phủ các nước phải thừa nhận tính pháp lý của nước Việt Nam, và phải giải quyết mọi vấn đề xung đột với Việt Nam với tư cách là một quốc gia độc lập. Sau  phiên họp đầu tiên của Quốc hội đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng trong hoạt động của Đảng và Nhà nước để tìm giải pháp quyết tâm giữ gìn độc lập dân tộc17. Vào 16 giờ ngày 6/3/1946, trước mặt đại diện của các nước Trung Hoa, Anh và Mỹ, đại diện Chính phủ Pháp đã phải ký với đại diện Chính phủ Việt Nam hiệp định sơ bộ, tạo điều kiện cho ta có thời gian chuẩn bị mọi mặt để chính thức tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong phạm vi toàn quốc, từ ngày 19/12/1946, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh18.    

2. Tuyên bố chính thể và chủ quyền

Tuyên bố chính thể cũng là một mục tiêu quan trọng của mọi cuộc cách mạng để kêu gọi, thuyết phục, lôi cuốn sự tham gia của quần chúng nhân dân. Trong lịch sử tư tưởng đấu tranh chính trị ở Việt Nam trước đây cũng có quan điểm tiến hành đấu tranh giành độc lập dân tộc bằng các phương thức khác nhau. Cụ Phan Bội Châu muốn  dựa vào Nhật để làm cách mạng duy tân, thiết lập chế độ quân chủ hoặc cụ Phan Chu Trinh muốn dựa vào Pháp để “tiến hành cải cách ở Đông Dương, cho cải tổ lại luật pháp, lập các tòa án bổ sung và phân quyền: các quan chức ngạch hành chính lo việc cai trị, quan chức ngạch tư pháp coi xử việc pháp luật. Làm như vậy, những thiệt hại mà dân chúng phải gánh chịu sẽ ngày càng bớt đi”19. Mặc dù các nhà chí sĩ yêu nước thời đó đã có những hoạt động tích cực nhất định để tập hợp lực lượng quần chúng nhân dân, nhưng do hạn chế của phương pháp luận, không tiếp cận được với tư tưởng thời đại nên không thể đem đến thành công cho cách mạng. Vượt lên trên ý thức tư sản, phong kiến đương thời, năm 1927, khi viết tác phẩm “Đường cách mệnh” Hồ Chí Minh đã nghiên cứu cuộc cách mạng Mỹ năm 1776 và rút ra một kết luận quan trọng là “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người, thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”20. Trong khi chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám, tại Hội nghị ngày 14, 15/8/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra chủ trương thực hiện mười chính sách của Việt Minh, trong đó về chính thể cần: “Lập nên một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, hoàn toàn độc lập”21. Về vấn đề này, sau cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu rõ trong Tuyên ngôn độc lập “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”22. Để khẳng định con đường chính thể mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, Tuyên ngôn của Quốc hội đã viết rất rõ ràng rằng “Chính thể của nước Việt Nam là chính thể dân chủ cộng hòa, có nhiệm vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều có quyền hạn và nhiệm vụ ngang nhau”23. Tuyên ngôn của Quốc hội còn phát triển cụ thể hơn nguyên tắc tổ chức quyền lực, theo đó “chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể dân Việt Nam”24. Và “vận mệnh quốc gia Việt Nam là ở trong tay Quốc hội Việt Nam”25. Có thể khẳng định qua Tuyên ngôn độc lập và Tuyên ngôn của Quốc hội thì con đường chính thể ở Việt Nam là con đường của dân chủ, cộng hòa, con đường quyền lực thuộc về nhân dân. Quốc hội là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam, quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, mọi ý tưởng về việc thiết lập chế độ có “vua” dù là “vua” hình thức theo kiểu quân chủ lập hiến hay “vua“ chuyên chế theo kiểu toàn trị đều không có cơ sở chính trị ở Việt Nam và cũng không phù hợp với ý chí, nguyên vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam.  

3. Tuyên bố đoàn kết là cội nguồn sức mạnh của dân tộc

Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản năm 1848, C. Mác - Ph. Ăngghen đã nêu một khẩu hiệu nổi tiếng “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” và khẩu hiệu này đã được các lãnh tụ cách mạng vô sản vận dụng rất linh hoạt tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Phát triển tư tưởng của C. Mác - Ph. Ăngghen, sau Cách mạng tháng Mười ở Nga, nhất là sau khi thành lập Quốc tế ba, Lê-nin đã đưa ra lời hiệu triệu “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Lời hiệu triệu của Lê-nin đã biến các nước thuộc địa - vốn là cái sân sau nuôi chủ nghĩa đế quốc - thành nơi bùng nổ các cuộc đấu tranh quyết liệt làm tan ra chủ nghĩa thực dân. Nguyên lý đoàn kết vô sản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin  dễ dàng được tiếp nhận ở Việt Nam vì đoàn kết còn là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam. Nhờ biết đoàn kết mà dân tộc Việt Nam đã có sức mạnh vô địch để chiến thắng nhiều kẻ thù trong lịch sử. Thấu hiểu nguyên lý này, ngay từ năm 1941, khi tuyên truyền cho việc thực hiện thắng lợi mười chính sách của Việt Minh nhằm giành độc lập cho dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra biện pháp:

“Muốn làm đạt mục đích này,

Chúng ta trước phải ra tay kết đoàn.

Sao cho từ Bắc chí Nam,

Việt Minh hội có muôn vàn hội viên”

Và:

“Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”26.

Ngày 16/8/1945, Quốc dân đại hội ở Tân Trào đã cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong lời Tuyên ngôn của Ủy ban có viết “Ủy ban lâm thời giải phóng có lời hiệu triệu quốc dân chặt chẽ đoàn kết dưới lá cờ giải phóng. Đoàn kết là sống, không đoàn kết là chết27”. Cũng trong thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa và vẫn tiếp tục đề cao ý nghĩa của vấn đề đoàn kết đân tộc. Theo Người, “cuộc đấu tranh của chúng ta còn gay go, dằng dai. Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do. Chúng ta vẫn phải ra sức phấn đấu. Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập… Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam cũng như Chính phủ lâm thời của ta lúc này. Hãy đoàn kết chung quanh nó, làm cho chính sách và mệnh lệnh của nó được thi hành khắp nước”28. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển lịch sử dân tộc. Thắng lợi vĩ đại này có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng Tuyên ngôn của Quốc hội đã ghi nhận tinh thần đoàn kết của toàn thể dân tộc Việt Nam là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất, theo đó “nền độc lập và dân chủ đã lập nên, nhờ sự đoàn kết hy sinh và chiến đấu của toàn dân”29. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhưng trong tuyên bố và hành động phải luôn luôn phản ánh được tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Đây cũng là nguyên nhân làm nên sự tín nhiệm của Quốc hội trước nhân dân trong lịch sử hoạt động của Quốc hội.

4. Tuyên bố kiên quyết bảo vệ độc lập 

Lê-nin từng nói rằng, một cuộc cách mạng chỉ có ý nghĩa khi nó biết cách tự bảo vệ. Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng đã biết cách tự bảo vệ trước sự đe dọa của thù trong, giặc ngoài. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn lời của Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ năm 1776, theo đó, tạo hóa đã cho mọi người có những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi trước thời đại, đã phát triển tư tưởng pháp lý từ quyền tự do của con người gắn liền với quyền tự do của dân tộc. “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: mọi dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”30. Hai mươi năm sau, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Liên hiệp quốc ghi nhận trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), đánh dấu sự phát triển của pháp luật quốc tế, theo đó “tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”31. Tuy nhiên, quyền tự do của con người, quyền tự do của dân tộc chỉ có thể được bảo đảm khi dân tộc được độc lập. Nếu dân tộc bị “vong quốc nô” thì  quyền tự do của con người, quyền tự do của dân tộc cũng chỉ là “cái bánh vẽ”. Đó cũng là lý do tại sao trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một cách mạnh mẽ: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”32. Quốc hội Việt Nam được nhân dân bầu ra trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên dù rất non trẻ, lại có sự mở rộng thêm bảy mươi đại biểu là thành phần rất khác nhau về quan điểm chính trị, giai cấp, nhưng ngay từ phiên họp đầu tiên đã cùng nhau tuyên bố trước quốc dân rằng:

 “Quốc hội Việt Nam kiên quyết bảo vệ đến cùng nền độc lập và lãnh thổ của quốc gia và quyền tự do của nhân dân Việt Nam.

Quốc hội Việt Nam ra lệnh cho toàn thể quốc dân tận lực chống giữ giang sơn và xây dựng lại Tổ quốc để dân tộc Việt Nam tiến nhanh tới vinh quang, cường thịnh”33.

 Bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng quốc gia cường thịnh để nhân dân có được quyền tự do, sung sướng là mục tiêu được đặt ra trong Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam, là lời tuyên thệ của các vị đại biểu Quốc hội đầu tiên, đặt nền móng tư tưởng cho việc xây dựng phương hướng hoạt động của Quốc hội Việt Nam. Đó cũng là lời tuyên thệ nhậm chức của Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/3/1946 trước Quốc hội34.  

5. Ý nghĩa chính trị, pháp lý của Tuyên ngôn

65 năm đã qua, ngày nay đọc lại Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam vẫn thấy vang lên lời hiệu triệu của một thiết chế dân chủ đã gắn bó máu thịt với cử tri cả nước ngay từ những ngày đầu tiên. Thực hiện tư tưởng của Tuyên ngôn, Quốc hội Việt Nam đã làm được rất nhiều công việc to lớn như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Quốc hội ta vĩ đại thật”35. 65 năm qua, có biết bao lớp đại biểu Quốc hội đã giữ vững lời tuyên thệ tận tụy gắn bó phục vụ nhân dân, nhiều vị đã anh dũng hy sinh cả tính mệnh của mình như cụ Nguyễn Văn Tố, được Quốc hội bầu làm Trưởng ban Thường trực của Quốc hội tại phiên họp đầu tiên ngày 2/3/1946, đã bị giặc Pháp bắt và sát hại trong cuộc tấn công lên căn cứ Việt Bắc năm 1947. Nhiều đại biểu Quốc hội khác đã trở thành liệt sĩ trong cuộc kháng chiến như Lý Chính Thắng (đại biểu Sài Gòn - Chợ Lớn), Thái Văn Lung (đại biểu Gia Định), Nguyễn Văn Luyện (đại biểu Hà Nội, ủy viên Ban Thường trực Quốc hội), Trần Kim Xuyến (đại biểu Bắc Giang), Lê Thế Hiếu (đại biểu Quảng Trị), Nguyễn Văn Triết (đại biểu Thủ Dầu Một), Huỳnh Bá Nhung (đại biểu Rạch Giá)36… Sự hy sinh của các đại biểu này không chỉ là thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc của công dân khi đất nước bị kẻ thù xâm lược, mà còn là thể hiện lòng trung thành với Tuyên ngôn của Quốc hội với tư cách là đại biểu Quốc hội.

Về phương diện chính trị, pháp lý, Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam là một văn kiện có giá trị to lớn cả về lý luận, thực tiễn có thể xét dưới các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, Tuyên ngôn của Quốc hội là sự hội tụ dòng chảy tư tưởng tiến bộ của Việt Nam, đáp ứng ý chí và nguyên vọng của nhân dân Việt Nam. Thành lập nước Việt Nam độc lập theo chính thể Dân chủ, Cộng hòa, xây dựng quốc gia cường thịnh (và ngày nay đang vững bước lên chủ nghĩa xã hội) là con đường đúng đắn nhất, là sự gặp gỡ giữa “ý Đảng” và “lòng dân”. Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam. 

Thứ hai, Quốc hội ra đời là kết quả thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Việc Quốc hội ngay từ phiên họp đầu tiên đã thông qua Tuyên ngôn là cần thiết để xác lập tính pháp quyền của cơ quan đại diện, là bước đi thích hợp trong điều kiện Quốc hội chưa thể ban hành Hiến pháp. Trong lúc chờ đợi việc ban hành Hiến pháp thì Tuyên ngôn của Quốc hội đã trở thành phương hướng hành động của các đại biểu Quốc hội, dù đại biểu đó là người của Việt Minh hay Việt Quốc, Việt Cách.  

Thứ ba, thông qua Tuyên ngôn, Quốc hội đã thể hiện được những quan điểm lớn của Đảng cộng sản Đông Dương về mục tiêu của cách mạng, thể hiện sự ủng hộ, tin tưởng của Quốc hội đối với Chính phủ lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người đứng đầu Chính phủ, vừa là lãnh tụ của Đảng và đó cũng là cách thức khôn khéo để các nhà lập pháp góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân một cách linh hoạt, mềm dẻo, hạn chế đến mức thấp nhất sự xung đột quan điểm chính trị giữa các đại biểu trong Quốc hội, góp phần bảo vệ thành quả của cách mạng. 

Thứ tư, nội dung của Tuyên ngôn đã chứa đựng những nguyên tắc cơ bản nhất mang tính hiến định về chính thể, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, về quyền cơ bản của công dân, về đoàn kết dân tộc, về con đường tương lai của đất nước Việt Nam. Tuyên ngôn của Quốc hội vì vậy, còn là nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng hiến pháp Việt Nam.

Thứ năm, Tuyên ngôn của Quốc hội không chỉ là một văn kiện có tính lịch sử mà còn có giá trị trường tồn, là ngọn cờ tư tưởng cho các thế hệ đại biểu Quốc hội nghiên cứu, học tập và vận dụng trong điều kiện mới. Từ năm 1946 đến nay, Quốc hội đã ban hành được bốn bản Hiến pháp, chức năng nhiệm vụ của Quốc hội ngày càng được hoàn thiện, theo đó, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao. Quốc hội vừa tích cực tham gia vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, đồng thời Quốc hội cũng là kết quả của việc xây dụng Nhà nước pháp quyền ấy. Vì vậy, ở bất kỳ hoàn cảnh nào, khi tham gia thực hiện các chức năng của Quốc hội, người đại biểu cũng cần ý thức được mình luôn luôn là người đại diện cho ý chí của nhân dân, tỏ rõ sự trung thành với những mục tiêu, nguyên tắc của Tuyên ngôn đã được Quốc hội thông qua. Tuyên ngôn của Quốc hội đã thật sự là lời thề thiêng liêng của mỗi đại biểu Quốc hội, phù hợp với ý nguyện của nhân dân Việt Nam.

(1) Văn kiện Quốc hội Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2006,  tr. 53 – 54.

(2) Việt Nam Quốc dân đảng.

(3) Việt Nam Cách mạng đồng minh hội.

(4) Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, sđd,  tr. 42.

(5) Xem Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 – 1960, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 1994, tr. 72 – 74.

(6) Văn kiện Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, sđd, tr. 75.

(7) Jay M. Shafritz, Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa kỳ, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. tr. 264.

(8) Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Trung  tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng 1998, tr 1031.

(9) Đào Duy Anh, Hán – Việt từ điển, Nxb. thành phố Hồ Chí Minh, tr 322.

(10) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1995, tập 3, tr. 1.

(11) Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, sđd, tr. 3.

(12) Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, sđd, tr. 16.

(13) Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, sđd, tr. 25.

(14) Nguyễn Văn Út, 9 bản Tuyên ngôn độc lập, Nxb. Văn hóa Thông tin, H. tr. 81.

(15) Văn kiện Quốc hội Toàn tập, tập 1, sđd,  tr. 53.

(16) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Sự Thật, H. 1987, tập 3, tr. 380.

(17) Ngày 3/3/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã chọn giải pháp “hoà để tiến”; ngày 4/3/1946, phiên họp đầu tiên của Chính phủ liên hiệp kháng chiến cũng đã đã tuyên bố “cương quyết giữ quyền độc lập” và chỉ nhận điều đình với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc “Dân tộc tự quyết” của Hiến chương Đại Tây Dương; sáng ngày 6/3/1946 tại phiên họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo về nội dung Hiệp định sơ bộ và được hội nghị chấp thuận (Xem Lê Mậu Hãn (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, 1988, tập III, tr. 40 -41)

(18) Xem Lê Mậu Hãn (chủ biên), sđd, tr 41.

(19) Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Nxb. Đà Nẵng 2001,  quyển 3, tập 1, tr. 37.

(20) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H., 2000, tập 2, tr. 270.

(21) Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, sđd, tr. 16.

(22) Nguyễn Văn Út , sđd, tr. 81.

(23) Văn kiện Quốc hội Toàn tập, tập 1, sđd, tr. 53.

(24) Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, sđd, tr. 53.

(25) Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, sđd, tr. 53.

(26) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1995, tập 3, tr. 206.

(27) Văn kiện Quốc hội toàn tập,  tập 1, sđd, tr. 28.

(28) Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, sđd, tr.  35.

(29) Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, sđd, tr. 53.

(30) Nguyễn Văn Út , sđd,H. tr. 79.

(31)Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người, Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.1998, tr. 176.

(32) Nguyễn Văn Út, sđd, tr. 81.

(33) Văn kiện Quốc hội toàn tập, sđd,  tập 1, tr. 54.

(34) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.2002, tập 4, sđd, tr.195.

(35) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000, tập 10, tr. 170.

(36) Văn phòng Quốc hội, Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 – 1960, sđd, tr. 124 – 125.

 TS. Phạm Văn Hùng - Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Văn phòng Quốc hội

Nguồn: http://www.nclp.org.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)