1. Cơ cấu tổ chức của Quốc Hội 

Theo quy định tại Điều 23 của Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức quốc hội năm 2020 có quy định cụ thể thì: tổng số đại biểu Quốc hội không quá 500 người, bao gồm đại biểu hoạt động chuyên trách và đại biểu hoạt đồng không chuyên trách , số lượng đại biểu quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là 40% tổng số đại biểu Quốc hội. Theo quy định tại Điều 44 Luật tổ chức quốc hội năm 2014: ủy ban thường vụ quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc Hội. Ủy ban thường vụ quốc hội do chủ tịch quốc hội làm chủ tịch và các phó chủ tịch quốc hội làm phó chủ tịch. Thành viên ủy ban thường vụ quốc hội là đại biểu quốc hội hoạt động chuyên trách và không đồng thời là thành viên chính phủ

Quốc hội thành lập các cơ quan chuyên môn gồm: Hội đồng dân tộc, ủy ban pháp luật, ủy ban tư pháp, ủy ban kinh tế, ủy ban tài chính , ngân sách, Ủy ban quốc phòng và an ninh, ủy ban văn hóa , giáo dục, ủy ban xã hội, ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường, ủy ban đối ngoại.Đâu là các cơ quan của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước ủy ban thường vụ quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước ủy ban thường vụ quốc hội, trong thời gian quốc hội không họp báo cáo công tác trước ủy ban thường vụ quốc hội., Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số . Hội đồng dân tộc, các ủy ban của quốc hội thẩm tra dự án luật , kiến nghị về luật , dự án khác và báo cáo được Quốc hội hoặc ủy ban thường vụ quốc hội giao, thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ , quyền hạn do luật định , kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động, của hội đồng, ủy ban...

 

2. Ủy ban pháp luật của Quốc Hội và chức năng , nhiệm vụ của ủy ban pháp luật của Quốc Hội theo quy định của pháp luật

Ủy ban Pháp luật của Quốc hội là cơ quan thảo luận, đóng góp ý kiến về các nội dung của dự thảo sửa đổi Luật, Hiến pháp, pháp lệnh của Quốc hội: Thẩm tra dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đề nghị của cơ quan khác, tổ chức, đại biểu Quốc hội về xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị của đại biểu về luật, pháp lệnh. Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh về dân sự, hành chính, về tổ chức bộ máy Nhà nước, trừ tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp, thẩm tra các dự án khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao. 

Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thóng pháp luật đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh trước khi trình quốc hội, ủy ban thường vụ quốc hội thông qua. Chủ trì thẩm tra đề án về thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ, thành lập mới, nhập, chia , điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chsinh - linh tế đặc biệt, báo cáo của Chính phủ về công dân.  Giám sát việc thực hiện luật , nghị quyết của Quốc hội , pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về dân sự, hành chính, về tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp, giám sát hoạt đồng của chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ thuộc lĩnh vực ủy ban phụ trách. Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của chính phủ, thủ tướng chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan ngang Bộ thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách. Kiến nghị các biện pháp cần thiết nhằm hoàn thiện bộ máy Nhà nước và hệ thống pháp luật

 

3. Ủy ban pháp luật của Quốc Hội có nhiệm kỳ là bao nhiêu năm

Theo Khoản 2 Điều 68 Luật tổ chức Quốc hội 2014 quy định như sau: Nguyên tắc làm việc, nhiệm kỳ và trách nhiệm báo cáo của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội: Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số. Nhiệm kỳ của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo nhiệm kỳ Quốc hội. Tại kỳ họp cuối năm của Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội gửi báo cáo công tác của mình đến đại biểu Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tại kỳ họp cuối của mỗi khóa Quốc hội, Hội đồng dân tộc, ủy ban của Quốc Hội gửi báo cáo tổng kết hoạt động nhiệm kỳ của mình đến đại biểu Quốc hội. Căn cứ trên quy định nhiệm kỳ của Ủy ban pháp luật của Quốc hội theo nhiệm kỳ Quốc hội

Dẫn chiếu theo khoản Điều 2 Luật tổ chức Quốc hội 2014 quy định về nhiệm kỳ Quốc hội như sau: Nhiệm kỳ Quốc hội: Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là 05 năm, kể từ ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa đó đến ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau. Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khóa mới phải được bầu xong.Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình theo để nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá 12 tháng trừ trường hợp có chiến tranh

=> Như vậy có nghĩa là, theo các quy định trên thì nhiệm kỳ của Ủy ban pháp luật của Quốc hội là 05 năm

 

4. Cơ quan có thẩm quyền bầu Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội 

Theo khoản 2 Điều 67 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 được sửa đổi khoản 10 Điều 1 Luật tổ chức Quốc hội sửa đổi 2020 có quy định cụ thể như sau: Cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội: Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, các phó chủ tịch, ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khách , Ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác. Chủ tịch Hội đồng dân tộc, chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội do Quốc hội bầu. Các phó chủ tịch, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác của Hội đồng dân tộc, các Phó Chủ nhiệm, ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác của Ủy ban do ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Thường trực Hội đồng dân tộc, thường trực Ủy ban của Quốc hội giúp Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội giải quyết các công việc thường xuyên của Hội đồng, Ủy ban trong thời gian Hội đồng, Ủy ban không họp. 

Thường trực Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các phó chủ tịch, các Ủy viên thường trực và các Ủy viên chuyên trách tại Hội đồng dân tộc Thường trực Ủy ban của Quốc hội gồm Chủ nhiệm, các phó Chủ nhiệm, các Ủy viên thường trực và các Ủy viên chuyên trách tại Ủy ban của Quốc hội. Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các tiêu ban để nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động, Ủy ban các thành viên khác có thể không phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban hoặc không phải là đại biểu Quốc hội 

=> Như vậy, theo quy định nêu trên thì Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội do Quốc hội bầu. 

Trên đây là phần tư vấn về vấn đề "Ủy ban pháp luật của Quốc hội có nhiệm kỳ là bao nhiêu năm?" của Luật Minh Khuê gửi tới quý khách hàng. Nếu các bạn còn có những câu hỏi khác có liên quan thì có thể liên hệ với chúng tôi thông qua các số điện thoại của tổng đài: 19006162 hoặc gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Cảm ơn sự theo dõi của Quý khách hàng. Trân trọng!