1. Vỡ nợ có bị coi là lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Kính chào luật sư, tôi có một vấn đề rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư Thưa luật sư: cho em hỏi nhà em cho anh Quang vay số tiền tổng cộng là 950 triệu đồng với lãi suất thỏa thuận. Thời hạn vay từ tháng 1/1/2013đến ngày 1/1/2014 có thế chấp tài sản là ngôi nhà của anh ta , ngôi nhà không có tranh chấp nhưng khi đó chưa có sổ đỏ. Đến ngày 24/12/2013, anh Quang làm được sổ đỏ nhưng không giữ lại hoặc giao cho nhà tôi mà lại mang cầm cố cho người khác(khi đó nhà tôi không biết anh ta đã làm được sổ đỏ).
Đến kì hạn là ngày 1/1/2014 nhà tôi đòi tiền nhưng anh Quang bảo đang đầu tư lam ăn, cho em kéo dài thời hạn vay và nhà tôi đã đồng ý viết lại hợp đồng cho vay từ ngày 1/1/2014 đến 1/1/2015 với số tiền 950 triệu đồng lãi suất thỏa thuận hàng tháng là 1,5%. Anh Quang trả lãi cho nhà tôi được 2 tháng , đến ngày 1/3/2015 anh ta thông báo với nhà tôi là vỡ nợ tạm thời không trả lãi và xin trả dần số tiền gốc mà không nêu thời hạn trả là tới khi nào. Vậy giờ tôi xin hỏi anh ta có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Nhà tôi có nộp đơn cho cơ quan công an điều tra từ tháng 5/2014 và tới tháng 12 nhà tôi nhận được thông báo của tòa án nhân dân nói rằng vu việc này xét xử như việc giả quyết dân sự, liệu như vậy nhà tôi có thu hồi được tài sản không và đã hợp lý chưa. liệu nhà tôi có nên kiện anh Quang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Người gửi: M.L

Trả lời:

Theo quy định pháp luật thì anh Quang không đủ điều kiện để thế chấp ngôi nhà, khoản 1 điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính."

Theo như bạn trình bày thì chúng tôi hiểu rằng giữa bạn và anh Quang chỉ có hợp đồng thế chấp viết tay (hoặc bằng miệng) mà không có công chứng? Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng thế chấp bất động sản bắt buộc phải có công chứng, nếu hợp đồng không được công chứng khi có tranh chấp khởi kiện ra Tòa, hợp đồng này có thể bị Tòa tuyên vô hiệu. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Như vậy, theo như bạn trình bày và các quy định của pháp luật thì bạn không có quyền thu hồi miếng đất của anh Quang.

Theo quy định tại điều 474 và 478 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì anh Quang phải có nghĩa vụ trả nợ cho bạn. Nếu anh Quang không trả nợ cho bạn, bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự cho Tòa án:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ...

Điều 478. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.

2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác."

Trong trường hợp này, nếu anh Quang có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bạn, bạn hoàn toàn có thể kiện anh Quang về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

2. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bị xử phạt như thế nào ?

Thưa Luật sư! Hôm trước tết, chị tôi có nhờ một thợ sửa máy lạnh vào chuyển máy lạnh sang nơi khác, sau mấy ngày người đó làm thì trả tiền công không lấy.
Vài ngày sau, người thợ đó đến chơi (tạm gọi là X) thì chị tôi có nhờ mang 6 triều đồng đi gửi ngân hàng và có trả tiền xăng. Đến chiều cùng ngày, X về nói là gửi nhầm số tài khoản khác sau nó chị tôi hỏi mãi X mới nói là mượn xài tết đỡ rồi sẽ trả lại cho nhưng từ hôm tết đến nay X hẹn mãi, vào nhà gặp gia đình X thì mẹ X cũng hứa sẽ nhắc nhỡ X trả cho chị tôi.
Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi: 1900.6162.

Trả lời:

Trong trường hợp của ban, nếu X không trả lại tiền cho chị bạn, chị bạn có thể khởi kiện lên Tòa án. X có thể btruy cứu​ trách nhiệm hình sự theo Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Vay nợ nhiều lần mãi không chịu trả có cấu thành tội lừa đảo không ?

Thưa luật sư! Em cần tư vấn vấn đề sau: tháng 06/2015 bác em có cho cô A mượn 600 triệu chỉ có giấy viết tay xác nhận nợ với mục đích mua nhà (có giấy nợ viết tay).Tháng 07/2015 cô A có hỏi bác em mượn tiếp 700 triệu(có giấy nợ viết tay) để làm giấy tờ nhà đất mà cô A đã mua; em cũng không hiểu sao bác em lại tin tưởng cô A như thế. Vì không còn tiền mặt bác em đem cầm cố ngôi nhà đang ở mượn xã hội đen( anh B) 700 triệu và đưa sổ đỏ để anh B giữ. Tiếp đến cô A nói còn thiếu tiền muốn mượn bác em thêm 300 triệu nữa để làm xong giấy tờ nhà mà cô A đã mua trước đó bác em được cô A đưa đến nhà anh B vay thêm 300 triệu và làm hợp đồng bán căn nhà trên cho anh B và toàn bộ số tiền trên đưa cho cô A mượn.
Tháng 09/2015 cô A lại gặp bác em và kêu chưa làm xong giấy tờ nhà đất cần mượn thêm 300 triệu nữa bác em lại đi vay mượn thêm 300 triệu nhưng (không làm hơp đồng). Cuối cùng cách đây một tháng cô A nói cần thêm tiền để làm giấy tờ đất kêu bác em mượn thêm 100 triệu nữa bác em đã cầm chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu mượn 100 triệu nữa đưa cho cô A. Khi em biết chuyện cách đây 1 tuần có đến hỏi cô A để đòi nợ nhưng cô A hẹn từ ngày nay qua ngày khác mà không chịu trả, tiền bác em cầm căn nhà 1 tháng lãi là 30 triệu do cô A trả cho anh B không thông qua bác em, khi em hỏi vậy đất cô A mua giấy tờ đâu thì đầu tiên cô A nói là không có giấy tờ và mua chung với người ta, sau đó vài ngày cô ta lại nói là cho cô L mượn để mua chứ không phải cô A mua.
Cho em hỏi bây giờ làm sao để không bị mất ngôi nhà đang ở và làm sao để đòi lại tiền từ cô A liệu sự việc của em có thể cấu thành tội lừa đảo không?
Xin chân thành cảm ơn!

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản rồi bỏ trốn xử như thế nào ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Điều 471 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định".

Nghĩa vụ trả nợ của bên vay tại Điều 474 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ".

Khi bạn biết chuyện cách đây 1 tuần có đến hỏi cô A để đòi nợ nhưng cô A hẹn từ ngày nay qua ngày khác mà không chịu trả. Như vậy, cô A không thực hiện nghĩa vụ của bên vay.

Bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố hành vi của người vay tiền khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. Theo Điều 302 Bộ luật dân sư 2005 về vi phạm nghĩa vụ dân sự .

Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự tại Điều 302 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 302. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự

1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền".

Mặt khác, để xem xét cô A có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không cần căn cứ vào các yếu tố cấu thành như sau:

Theo Điều 139 Bộ Luật Hình sự 1999 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015) quy định: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Mặt khách quan: có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động …

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản.

Cô A mượn tiền bác bạn nhiều lần. Khi bạn biết chuyện cách đây 1 tuần có đến hỏi cô A để đòi nợ nhưng cô A hẹn từ ngày nay qua ngày khác mà không chịu trả, tiền cầm căn nhà 1 tháng lãi là 30 triệu do cô A trả cho anh B không thông qua bác bạn. Khi hỏi đất cô A mua giấy tờ đâu thì đầu tiên cô A nói là không có giấy tờ và mua chung với người ta, sau đó vài ngày cô ta lại nói là cho cô L mượn để mua chứ không phải cô A mua.

Qua những dấu hiệu trên cô A có thể chịu trách nhiệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản rồi bỏ trốn xử như thế nào ?

Xin kính chào văn phòng luật sư minh khuê. Tôi xin phép hỏi một vấn đề kính mong luật sư giải đáp giúp cho. Vào tháng 3 năm 2017 tôi và một người bạn nữa có nhờ một người quen xin việc giúp vào cơ quan nhà nước. Người này yêu cầu tôi và người bạn đưa ông mỗi người là 150. 000. 000 tổng cộng cả hai là 300. 000. 000 triệu đồng.

Khi giao tiền ông có ghi giấy mượn tiền và hẹn sau hai tháng sẽ có giấy quyết định bổ nhiệm đi làm việc. Nhưng sau thời gian hai tháng ông lại tiếp tục hẹn hết lần này đến lần khác. Tôi và người bạn không chờ được nữa nên đề nghị ông trả lại số tiền khi trước nhận và ông đã đồng ý và hẹn thời gian trả. Nhưng sau thời gian hẹn ông ta đã bỏ trốn. Ông không có vợ con chỉ có anh chị em hiện vẫn ở đây. Tôi đã tới nhà làm việc nhưng người nhà ông không chịu giải quyết nói không có liên quan gì tới ông.

Vậy luật sư cho tôi hỏi nếu bây giờ tôi làm đơn kiện ra tòa trong khi ông đã bỏ trốn thì ai sẽ chịu trách nhiệm thay ông và số tiền này có lấy lại được không ?

Kính mong phản hồi sớm từ luật sư. Chân thành cảm ơn.

- Trần Q

Luật sư trả lời:

Đầu tiên, để có căn cứ khởi kiện/tố cáo một hành vi vi phạm pháp luật thì bạn càn phải có bằng chứng, với nội dung bạn vừa trao đổi, chúng tôi chưa nắm được bạn dang có trong tay bằng chứng gì , nếu có đầy đủ giấy tờ, tin nhắn, đoạn ghi âm, ghi hình... về việc giao tiền, về việc 2 bên thỏa thuận với nhau thì đó chính là chứng cứ . Nếu chưa có chứng cứ bạn cần phải thu thập thêm trước khi nhờ pháp luật can thiệp.

Chúng tôi xin đưa ra hai trường hợp để bạn tham khảo:

Trường hợp 1: số tiền bạn chuyển giao là khoản thù lao đề người nhận giúp con bạn tìm kiếm việc làm

Trong trường hợp này , nếu số tiền là thù lao có được từ việc một cá nhân A trả cho một cá nhân B để giúp mình hoàn thành 1 công việc , ví dụ : nghe ngóng , cung cấp thông tin về việc làm , giới thiệu việc làm , hỗ trợ trong quá trình xin việc... thì việc giao nhận tiền này sẽ được giải quyết theo hướng dân sự . Về bản chất , đây là một hợp đồng , bạn là bên trả thù lao , người nhận số tiền này để giới thiệu việc làm cho con bạn là bên nhận thù lao chính vì vậy khi người nhận thù lao không hoàn thành công việc này thì đương nhiên người đó phải trả lai khoản thù lao cho bạn . Nếu bạn đòi nhiều lần họ vẫn không trả , bạn có thể khởi kiện lên tòa án nhân dân cấp quận/ huyện nơi người này đang cư trú để được giải quyết tranh chấp này.

Trường hợp 2: Số tiền bạn giao cho người bạn của mình nhằm mục đích hối lộ , đút lót để xin việc

Với tình huống này, có thể bạn và người đã nhận số tiền này sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ, nhận hối lộ theo Bộ luật dân sự năm 2015 (Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017) cụ thể :

Điều 364. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đén 300.000.000 đồng...

7. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Điều 365 . Tội môi giới hối lộ

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Biết của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Của hối lộ trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

6. Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

7. Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.

Vậy , bạn có thể tố cáo người đã nhận tienf xin việc của bạn ra cơ quan công an, cơ quan cảnh sát điều tra ... để xử lý hình sự đối với người môi giới hối lộ hoặc người nhận hối lộ trong trường hợp này . Bạn thuộc trường hợp đưa hối lộ nhưng đã chủ động , thành khẩn khai báo thì bạn có thể được miễn trách nhiệm hình sự và trả lại 1 phần hoặc toàn bộ số tiền bạn đã đưa hối lộ

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Mua hàng trả góp, trả không đúng thời hạn có bị coi là lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Chào Luật sư! em có mua hàng trả góp hàng tháng, nhưng do hiện tại em làm ăn bị thua lỗ không đủ khẳ năng chi trả và em đã chậm đóng được mấy tháng. Bên ngân hàng gọi điện, nhắn tin cho em, nói em là có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự, như vậy có đúng không ?
Xin cảm ơn Luật sư!

Luật sư tư vấn:

Mua hàng trả góp khá phổ biến hiện nay, khi mua hàng trả góp hàng tháng người mua hàng phải đóng một số tiền nhất định hàng tháng trong vòng một thời gian nhất định, cho đến khi hết số tiền trả góp đó. Nhưng có những trường hợp trong thời gian trả góp không đủ điều kiện để trả, bị chậm trả thì bị ngân hàng coi là hành lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Để làm rõ vấn đề này chúng ta cần hiểu như thế nào là lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bộ Luật dân sự năm 2015(Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017):

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy theo điều 174, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người nào có thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ vi phạm điều 174.

Còn trường hợp của bạn chưa có yếu tố hình sự chỉ đang là dân sự. Việc ngân hàng nói bạn có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là không chính xác.

Trong trường hợp mua hàng trả góp nếu có dấu hiệu hình sự thì phải có các yếu tố sau:

+ Người vay trả góp bỏ trốn, không thể liên lạc được.

+ Người vay trả góp trốn tránh trách nhiệm trả nợ...

Đối với trường hợp của bạn không thể cho rằng bạn có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được nên họ không có đủ căn cứ viết đơn tố cáo lên cơ quan công an được. Ở đây bên ngân hàng chỉ có quyền khởi kiện ra Toà án nếu bạn không trả hoặc không đủ điều kiện để trả khi là hết thời gian mà bạn phải thanh toán. Nếu như vậy bạn sẽ phải thanh toán cho ngân hàng số tiền đã vay và lãi suất mà bạn chậm đóng hoặc bạn chủ động chỉ trả cho ngân hàng thời gian mà bạn đã chậm đóng tránh việc bị khởi kiện ra Toà án sẽ ảnh hưởng đến việc bạn sẽ mất thời gian và công sức lên Toà để theo vụ kiện.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về mua hàng trả góp trực tuyến, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?