Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Cơ sở pháp lý: 

- Hiến pháp năm 2013

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

1. Quyền được xét xử công bằng 

Quyền được xét xử công bằng là quyền của người bị buộc tội và của những người tham gia tố tụng hình sự trước cơ quan tư pháp, được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm cho việc xét xử khách quan, bảo đảm công lý, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 ghi nhận nguyên tắc: “Mọi người đều bình đẳng hưởng quyển được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” (Điều 10).

Quyền được xét xử công bằng là quyền mang tính bao trùm, được thể hiện qua các quyền cụ thể của con người cần được bảo đảm trong tố tụng hình sự như quyền bình đẳng trước Tòa án, quyền được suy đoán vô tội, quyền bào chữa, quyền được bảo đảm tranh tụng, quyền kháng cáo, quyền khiếu nại, quyền được bồi thường, quyền không bị xét xử hai lần vì một tội phạm, bảo đảm có đại diện nhân dân tham gia xét xử, bảo đảm nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số và bảo đảm nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai...

Dưới dây là 4 nguyên tắc trong xét xử vụ án hình sự nếu được đảm bảo sẽ bảo đảm quyền được xét xử công bằng của con người.

2. Bảo đảm có đại diện nhân dân tham gia xét xử

Chế định đại diện nhân dân tham gia xét xử được ghi nhận trong thể chế tư pháp của nhiều quốc gia. Ở các quốc gia theo hệ thống thông luật có sự tham gia của bồi thẩm. Ở các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, có sự tham gia của Hội thẩm.

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận việc Hội thẩm tham gia xét xử như một trong những nguyên tắc bản của hoạt động tư pháp. Trước đó, Hiến pháp năm 1959,1980,1992 cũng đều ghi nhận nguyên tắc này. Việc Hội thẩm tham gia xét xử còn có ý nghĩa trong việc giám sát hoạt động xét xử của Tòa án từ phía nhân dân, đồng thời là “cầu nối” giữa Tòa án và xã hội. Về lý luận và thực tiễn đều cho thấy Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án hình sự là cần thiết, vì chế định này mang vào phiên tòa sự đánh giá của công chúng đối với vụ án, sự nhận xét, đánh giá của nhân dân về hành vi phạm tội, với các phạm trù đạo đức như thiện, ác, đúng, sai, công bằng, bất bình đẳng...

Hội thẩm (gồm Hội thẩm nhân dân và Hội thẩm quân nhân) là những người đại diện cho nhận thức và sự hiểu biết về pháp luật ở mức “trung bình” của đa số nhân dân. Họ nhìn nhận, đánh giá các sự kiện, tình tiết của vụ án hình sự theo cách của những người không chuyên về luật pháp.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân (Tòa án quân sự là Hội thẩm quân nhân). Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.

Khi được phân công tham gia xét xử vụ án hình sự, Hội thẩm được nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm; khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền Thẩm phán; Hội thẩm tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử; việc nghị án được tiến hành bí mật và Hội thẩm được quyền có ý kiến bảo lưu khi nghị án.

Hội thẩm tự mình đề nghị không tham gia xét xử hoặc bị thay đổi khi có căn cứ cho rằng họ không vô tư và khách quan. Pháp luật cũng đã quy định những đảm bảo về mặt tố tụng cho việc thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử của Hội thẩm đó là khi xét xử, Hội thẩm ngang quyển với Thẩm phán. Điều này thể hiện mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm trong xét xử trên bình diện quyền năng của mỗi người. Việc xét xử ở các cấp Tòa án, trong đó có cấp sơ thẩm được thực hiện theo chế độ hội đồng (trừ trường hợp luật quy định có một Thẩm phán xét xử). Chế độ “hội đồng” bảo đảm mọi quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, nơi Hội thẩm chiếm đa số thành viên của Hội đồng xét xử đều được thông qua theo nguyên tắc đa số, các thành viên ngang quyền với nhau.

Để bảo đảm được sự ngang quyền của Hội thẩm và Thẩm phán, cần xác định rõ tính chất mối quan hệ giữa họ với nhau trong giai đoạn nghiên cứu hồ sơ và giai đoạn xét xử tại phiên tòa. Trong giai đoạn nghiên cứu hồ sơ, mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm mang tính chất hỗ trợ và hướng dẫn. Thẩm phán hướng dẫn cho Hội thẩm cách nghiên cứu hồ sơ để đem lại kết quả nhanh và chính xác. Thẩm phán cũng hướng dẫn cho Hội thẩm cách ghi chép tổng hợp nội dung vụ án một cách ngắn gọn, đầy đủ để có thể tiến hành thẩm vấn tại phiên tòa một cách có hiệu quả. Vể phần mình, Hội thẩm bằng kinh nghiệm xã hội của mình, có thể phát hiện những vấn đề cần trao đổi với Thẩm phán để bổ sung cho việc xét xử. Khi phiên tòa khai mạc cũng là bắt đẩu thời điểm thể hiện rõ nhất cộng đồng trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm.

Còn Thẩm phán, trong quá trình điều khiển phiên tòa cần luôn luôn xác định rằng Hội thẩm là những người ngang quyển với mình để từ đó có thái độ đúng đắn trong mối quan hệ giữa các thành viên của Hội đồng xét xử. Sự đánh giá không đúng vai trò và vị trí của Hội thẩm, không tôn trọng ý kiến của Hội thẩm từ phía Thẩm phán sẽ dẫn đến hiện tượng áp đặt ý kiến đối với Hội thẩm. Nếu tránh được điều đó thì cũng có nghĩa là Thẩm phán và Hội thẩm đã tạo ra được một không khí dân chủ trong phiên tòa và tạo cho công chúng dự phiên tòa một thái độ nhìn nhận đúng đắn về vị trí và vai trò của các thành viên trong Hội đồng xét xử, để họ không có cảm giác rằng Thẩm phán xét xử một mình. Vì vậy, nếu ở các bước của phiên tòa công khai trước khi nghị án mà Hội thẩm đã bị áp đặt ý kiến thì khi ở trong phòng nghị án, khi chỉ có các thành viên của Hội đồng xét xử với nhau, ắt hẳn sự áp đặt đó còn mạnh hơn nhiều. Đó là hiện tượng cần được ngăn chặn.

Về phía Hội thẩm, khi xét xử phải thể hiện sự tự tin, luôn luôn xác định mình là một thành viên của Hội đồng xét xử. Vì thế Cần sẵn sàng hỗ trợ cho Thẩm phán, nhắc nhở Thẩm phán trong quá trình xét xử nếu thấy có những vấn đề mới phát sinh hoặc có những tình tiết cũ nhưng Thẩm phán quên không thẩm vấn, hoặc khi Thẩm phán do căng thẳng khi điều hành tranh tụng mà bộc lộ những sai sót. Hội thẩm cần phối hợp với Thẩm phán trong việc điều hành phiên tòa để vừa bảo đảm chất lượng, vừa thể hiện được những yêu cầu của văn hóa tư pháp.

Sự ngang quyền của Hội thẩm và Thẩm phán thể hiện tập trung nhất trong khi nghị án. Do tính chất quan trọng đặc biệt của bản án, nên pháp luật quy định một trình tự đặc biệt để thảo luận và ra bản án. Việc nghị án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác. Chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyển nghị án. Trong quá trình nghị án, Hội thẩm phát biểu ý kiến trước và Thẩm phán phát biểu ý kiến sau cùng. Việc biểu quyết được tiến hành theo đa số. Nếu không đồng ý với ý kiến của đa số, Hội thẩm hoặc Thẩm phán có thể ghi ý kiến bảo lưu. Thẩm phán không áp đặt ý kiến đối với Hội thẩm trong khi ra phán quyết cuối cùng về vụ án.

3. Bảo đảm Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số

Xét xử tập thể và quyết định theo đa số là một phương thức hoạt động có tính đặc thù của Tòa án. Phán quyết của Tòa án luôn gắn với quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức, thậm chí gắn với các quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền sở hữu tài sản, quyền nhân thân khác. Điều đó đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm sự thận trọng cần thiết khi áp dụng pháp luật. Một quyết định mang tính chất “trí tuệ tập thể" sẽ hạn chế được sai sót có thể xảy ra. Để có một phán quyết đúng đắn, công minh, phải có một Hội đồng xét xử, trong đó các thành viên cùng trao đổi, bàn bạc, đưa ra ý kiến, trên cơ sở đó những tình tiết của vụ việc được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau. Nhờ vậy vụ việc được làm sáng tỏ, quyết định được chính xác.

Khác với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, hoạt động xét xử của Tòa án là xét xử tập thể (Hội đồng). Phán quyết của Tòa án là kết quả hoạt động chung của Hội đồng xét xử. Nhờ đó bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ, khách quan của việc nghiên cứu, tham vấn giải quyết vụ án và bảo đảm tính đúng đắn, công bằng, khách quan của các bản án và quyết định của Tòa án, tránh được tính chủ quan, độc đoán và tùy tiện. Khi xét xử các vụ án hình sự ở mọi cấp Tòa án nói chung được tiến hành theo chế độ hội đồng (Hội đồng xét xử), không phải do cá nhân Thẩm phán nào thực hiện việc xét xử (trừ trường hợp ngoại lệ có một Thẩm phán xét xử). Vì chất lượng xét xử, tính đúng đắn của bản án phụ thuộc rất nhiều vào việc một Thẩm phán hay một tập thể Thẩm phán và Hội thẩm xét xử. Xét xử tập thể có thể giải quyết được những vấn đề phức tạp trong xét xử bằng tư duy logíc, tư duy thực tiễn của một tập thể thành viên Hội đồng xét xử, với kiến thức và kinh nghiệm trong “pháp đình” và ngoài xã hội, có thể tránh được những sai sót khi ra bản án hoặc quyết định. Xét xử tập thể còn giúp cho các thành viên Hội đồng xét xử trao đổi kinh nghiệm với nhau, nâng cao trình độ của các thành viên trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Không những thế, còn hạn chế được những yếu tố can thiệp từ bên ngoài, vì tác động lên một tập thể khó hơn là tác động lên một cá nhân. Khi việc xét xử theo Hội đồng, mọi quyết định của Tòa án đều được ban hành bởi một tập thể. Tập thể cùng thảo luận, tập thể quyết định theo số đông; người không đồng ý thì được quyền bảo lưu ý kiến của mình.

Hiến pháp năm 2013, kế thừa các Hiến pháp trước đây, quy định Tòa án nhân dần xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nhưng có một ngoại lệ là trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn (khoản 4 Điều 103).

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 ghi nhận nguyên tắc Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do luật tố tụng quy định (Điều 10). Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định tại Điều 24: “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định”.

Về thành phần Hội đồng xét xử, khoản 1 Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm”.

Thành phẩn Hội đồng xét xử phúc thẩm theo Bộ luật Tố tụng hình sự gồm ba Thẩm phán. Thành phần Hội đồng xét xử giám đốc thẩm của ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm ba Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dần cấp tỉnh, Tòa án nhân dần cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị. Còn Hội đồng toàn thể ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị nhưng có tính chất phức tạp; hoặc bản án, quyết định đã được ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán nhưng không thống nhật khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án. Đối với Tòa án quân sự, ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của ủy ban Thẩm phán Tòa án quần sự trung ương tham gia, do Chánh án Tòa án quân sự trung ương làm chủ tọa phiên tòa.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đổng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị. Còn Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm đổi với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị nhưng có tính chất phức tạp; hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.

Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số trong các thủ tục tố tụng có Hội thẩm tham gia vừa là sự thể hiện tính chất dân chủ, vừa thể hiện tính chất đặc trưng của hoạt động xét xử là: Việc phán quyết một vụ án phải do một tập thể mà không phải do một cá nhân nào quyết định. Hội thẩm, với cương vị là một thành viên trong Hội đồng xét xử, phải phát huy hết kinh nghiệm xã hội và kiến thức của mình, để quyết định của đa số thành viên trong Hội đổng xét xử được đúng và chính xác.

4. Bảo đảm xét xử kịp thời, công bằng, công khai

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền độc lập... được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý”.

Quyền tư pháp là một trong ba nhánh quyền lực. Xét xử trở thành một chức năng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, một hoạt động quyền lực nhà nước đặc thù. Hoạt động xét xử của Tòa án được tiến hành bằng thủ tục công khai, minh bạch, thuận tiện và dân chủ. Bản thân thủ tục tư pháp là một thủ tục dân chủ để mọi người dân có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Các bên đều có thể biết về các thủ tục đó.

Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước - là nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, nơi mà các kết quả hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định - được xét và xử một cách công khai dựa trên pháp luật và theo những thủ tục tố tụng chặt chẽ, nhằm đưa ra phán quyết mang tính quyền lực nhà nước. Thông qua hoạt động xét xử, bằng các quyết định, bản án nghiêm minh, công bằng, Tòa án tác động đến việc xác lập các chuẩn mực mới trong quan hệ xã hội, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân trong hoạt động tư pháp, tạo dựng niềm tin vào nền công lý, vào bộ máy nhà nước.

Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để đưa ra các phán quyết về một vụ án hình sự cụ thể. Hoạt động xét xử hình sự là thực hiện chức năng kiểm tra công khai các hành vi pháp lý của các cơ quan điều tra, truy tố để bảo đảm cho bản án và quyết định chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thông qua xét xử công khai của Tòa án, công chúng có thể nhận thấy rất rõ mức độ bảo vệ quyền con người, quyền công dần. Hoạt động xét xử cũng tác động trực tiếp lên ý thức và hành vi của những người tham dự phiên tòa và những người biết về vụ án thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về công lý, sự công bằng trong phán quyết của Tòa án.

Việc Tòa án phải xét xử kịp thời là bảo đảm yêu cầu bị cáo được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô căn cứ. Xét xử kịp thời không chỉ là đòi hỏi từ khi bị cáo bị truy tố đến khi mở phiên tòa, mà cả thời gian xét xử tại Tòa án, thời gian giữa hai phiên xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Xét xử kịp thời nhằm đảm bảo quyên con người của người bị buộc tội. Vì trong quá trinh tố tụng, họ có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khởi nơi cư trú và bị hạn chế một số quyền trong khi họ chưa bị coi là có tội. Nếu xét xử kịp thời, Tòa án sẽ nhanh chóng đưa ra phán quyết đối với bị cáo. Thực tế cho thấy không ít trường hợp Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội, trả tự do và khôi phục quyền lợi cho người bị oan.

Một phiên tòa công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm... Người bị buộc tội phải được xét xử bởi một phiên tòa mà ở đó họ được thực hiện các quyền của mình mà Hiến pháp và pháp luật quy định như được thông báo về phiên tòa, được biết mình bị xét xử về tội gì, được bào chữa hay nhờ người bào chữa, được tranh luận tại phiên tòa, đưa ra các chứng cứ và yêu cầu...

Các giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm đều mang tính công khai (trừ trường hợp pháp luật quy định xét xử kín). Mặc dù phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm thì mức độ công khai có hạn chế hơn do số chủ thể tham gia phiên tòa có giới hạn so với xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Không những thế, các quyết định giám đốc thẩm đều được công bố công khai dưới nhiều hình thức theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân nên có ý kiến cho rằng việc xét xử công khai chỉ có ở cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm là không hợp lý.

Có thể thấy xét xử công khai nhằm đảm bảo cơ chế kiểm tra và giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử. Sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Nhà nước nói chung và hoạt động xét xử nói riêng, là đòi hỏi cấp bách của một xã hội dân chủ. Việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi công dân từ đủ 16 tuổi trở lên đều có thể tham dự và Tòa án phải công bố tất cả các quyết định được thông qua trong quá trình xét xử của vụ án. Tòa án xét xử công khai ở trụ sở Tòa án nhưng ưong một số trường hợp cần phát huy mạnh mẽ tác dụng giáo dục và phòng ngừa của công tác xét xử, thi Tòa án có thể tiến hành các phiên tòa xét xử lưu động tại nơi xảy ra tội phạm. Sau khi xét xử Cần phải tuyên án công khai và bản án đó Tòa án có thể công bố trên báo chí, đài phát thanh hoặc bằng các phương tiện thông tin đại chúng khác để mọi người được biết.

Như vậy, xét xử công khai không những là biện pháp để cho người dân, các tổ chức, đoàn thể xã hội, báo chí tham gia kiểm tra, giám sát tính đúng đắn của hoạt động tố tụng mà còn góp phần để giáo dục, phòng ngừa tội phạm; bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của công dân.

Điều 25 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định: “Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai”. Hình thức xét xử công khai hay xét xử kín do Hội đồng xét xử quyết định. Nguyên tắc công khai thể hiện bằng việc Hội đồng xét xử phải trực tiếp xác định những tinh tiết của vụ án bằng cách hỏi, nghe ý kiến của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng, người giám định, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập; công bố biên bản, tài liệu và tiến hành hoạt động tố tụng khác để kiểm tra chứng cứ; nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Các quy định về công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố; nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Việc trình bày, công bố báo cáo, tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Những trường hợp cần xét xử kín gồm:

1) Cần giữ bí mật nhà nước, tức là những thông tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói... có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa cống bố và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước;

2) Giữ gìn thuần phong, mỹ tục của dân tộc, tức là những phong tục, tập quán, truyền thống, đạo đức, lối sống tốt đẹp, lành mạnh của dần tộc được hình thành trong quá trình lịch sử dài lâu và bền vững được xã hội thừa nhận, được lưu truyền qua các thế hệ;

3) Giữ gìn bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự;

4) Để bảo vệ người dưới 18 tuổi, đối với những vụ án hình sự có người bị hại là người dưới 18 tuổi bị xâm hại tình dục, bị bạo hành hoặc bị mua bán thì Tòa án phải xét xử kín. Đối với những vụ án khác có yêu cầu của người dưới 18 tuổi, người đại diện của họ hoặc để giữ bí mật đời tư, bảo vệ người dưới 18 tuổi thì Tòa án cũng có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai. Không được xét xử lưu động đối với vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi.

Trong phiên tòa xét xử kín, chỉ có Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, bị cáo, đương sự và những người tham gia tố tụng khác do Hội đồng xét xử triệu tập nếu xét thấy cần thiết. Còn lại không một ai khác được ở lại phòng xét xử để theo dõi diễn biến phiên tòa, kể cả nhà báo hay người thần thích của bị cáo, đương sự. Khi tuyên án đối với trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án (Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)

5. Bảo đảm nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận nguyên tắc: “Không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước” (khoản 7 Điều 14).

Đây là điều khoản rất quan trọng của văn kiện pháp lý quốc tế này về bảo đảm quyền con người, được pháp luật của một số quốc gia đưa vào Hiến pháp. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm là nguyên tắc lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 2013 cùa Việt Nam (Điều 31). Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đều tuần theo nguyên tắc: một hành vi phạm tội chỉ bị xử lý một lần. Vì vậy, khi khởi tố vụ án hình sự và suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu ở giai đoạn nào phát hiện hành vi phạm tội đang bị khởi tố đã có một bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật thì các cơ quan tiến hành tố tụng không được khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử người có hành vi đó nữa. Nguyên tắc này thể hiện sự nhân đạo, chính nghĩa, công bằng trong pháp luật hình sự, thiết lập sự công bằng giữa lợi ích công và lợi ích riêng của cá nhân. Đối với người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định đình chỉ điều tra hay đình chỉ vụ án giải thoát cho họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hai lần về cùng một hành vi phạm tội. Bảo đảm công bằng các quyền lợi hợp pháp của công dân không chỉ có ý nghĩa chính trị - xã hội mà còn tác động đến tâm tư, tình cảm của con người và niềm tin của họ vào pháp luật. Mặt khác, nguyên tắc này có ý nghĩa đối với nhận thức pháp luật của công chúng về tính công bằng của pháp luật. Những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản của công dân sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm khắc bằng những chế tài luật hình sự. Nhưng nếu đã xử lý một lần thì không được xử lý một lần nữa. Điều đó ngăn chặn được các hiện tượng vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm, Điều 14 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm".

Như vậy, khi hành vi của một người đã được Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phán quyết, đã có hiệu lực pháp luật thì công lý đã được xác lập. Khi đó, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thi hành gồm:

- Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành;

- Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định của Bộ luật Hình sự;

- Quyết định của Tòa án tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định thi hành;

- Quyết định của Tòa án chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài;

- Bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại trường giáo dưỡng;

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra đổi với pháp nhân thương mại thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án hình sự (Điều 2 Luật Thi hành án hình sự năm 2019).

Khi đã có những điều kiện nêu trên, thì đó là một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự. Nếu vụ án đã khởi tố thì Viện kiểm sát sẽ hủy quyết định khởi tố. Nếu vụ án ở giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án (Điều 248 Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015). Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án. Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải ra quyết định đình chỉ vụ án nếu có căn cứ xác định người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về "bảo đảm quyền con người trong xét xử vụ án hình sự thông qua các nguyên tắc xét xử". Bạn đọc nếu có vướng mắc pháp lý cần hỗ trợ bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê