Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Cơ sở pháp lý:

- Hiến pháp năm 2013

- Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2017

1. Oan, sai trong tố tụng hình sự

Trong hoạt động tư pháp, có thể xảy ra những hiện tượng oan, sai bởi nhiều lý do khách quan và chủ quan.

 “Oan” là trường hợp một người bị truy tố, xét xử vì hành vi do người khác gây ra, tức là có sự kiện phạm tội xảy ra nhưng chủ thể của tội phạm lại xác định nhầm, dẫn đến truy tố và xét xử nhầm; hoặc không có sự kiện phạm tội xảy ra nhưng một người vẫn bị xét xử và kết tội (như trường hợp một người bị kết án về cướp giật tài sản nhưng sau đó xác định không có sự việc cướp giật xảy ra).

“Sai” là những trường hợp cơ quan và người tiến hành tố tụng hình sự thực hiện không đúng, không đầy đủ, áp dụng pháp luật sai dẫn đến định tội danh sai, quyết định hình phạt sai, bỏ lọt tội phạm.

Khi đó, Nhà nước, với trách nhiệm của mình trước công dân, phải đứng ra bồi thường cho những người bị oan, sai.

2. Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại trong tố tụng hình sự

2.1. Quy định tại Hiến pháp

Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 31: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thẩn và phục hồi danh dự”. Cụ thê’ hóa Hiến pháp, Điều 31 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, đỉều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và
phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điểu tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra. Người khác bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra có quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại”.

2.2. Các trường hợp bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong tố tụng hình sự

Điều 18 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định phạm vi bồi thường thiệt hại trong tố tụng hình sự trong các trường hợp:

1) Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

2) Người bị bắt, người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

3) Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điểu ưa vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

4) Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;

5) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;

6) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyển trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

7) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyển trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;

8) Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Tòa án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;

9) Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được pháp nhân đã thực hiện tội phạm và pháp nhân đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;

10) Cá nhân, tổ chức có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý, có tài khoản bị phong tỏa hoặc cá nhân, tổ chức khác có hên quan đến các trường hợp nêu trên.

Các trường hợp Nhà nước bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự

Trong hoạt động thi hành án hình sự, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp:

1) Thi hành án tử hình đối với người thuộc trường hợp không bị thi hành án tử hình quy định tại Bộ luật Hình sự;

2) Giam người bị kết án phạt tù quá thời hạn phải thi hành án theo bản án, quyết định của Tòa án;

3) Không thực hiện một trong các quyết định:

- Hoãn thi hành án của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù;

- Tạm đình chỉ thi hành án của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù;

- Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù;

- Tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án đối với người bị kết án phạt tù;

- Đặc xá của Chủ tịch nước đối với người bị kết án phạt tù được đặc xá;

- Đại xá của Quốc hội đối với người bị kết án được đại xá.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cho phép người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong thi hành án hình sự (kể cả trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, và thi hành án dân sự); kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự tại Tòa án đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự (khoản 4 Điều 4).

2.3. Xác định thiệt hại trong tố tụng hình sự được Nhà nước bồi thường

Thiệt hại về vật chất trong hoạt động tố tụng được xác định tại các điều từ Điều 22 đến Điều 26 của Luật.

Đối với thiệt hại về tinh thần, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã sửa đổi toàn diện các quy định về thiệt hại về tinh thần theo hướng cụ thể hóa mức bồi thường. Tăng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần đối với các trường hợp bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự; bồi thường thiệt hại về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm. Cụ thể, thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong hoạt động tố tụng hình sự được xác định như sau:

- Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được xác định là 02 ngày lương cơ sở;

- Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là 05 ngày lương cơ sở cho 01 ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù;

- Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại không bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc chấp hành hình phạt không phải là hình phạt tù được xác định là 02 ngày lương cơ sở cho 01 ngày không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt;

- Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo được xác định là 03 ngày lương cơ sở cho 01 ngày chấp hành hình phạt;

- Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại đã chấp hành xong hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án mà sau đó mới có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự được xác định là 02 ngày lương cơ sở cho 01 ngày chưa có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.

Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là 360 tháng lương cơ sở. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại nhưng không quá 50 tháng lương cơ sở. Ngày lương cơ sở được xác định là 01 tháng lương cơ sở chia cho 22 ngày.

Về phục hồi danh dự, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định Nhà nước chủ động phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự. Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm chủ động thực hiện việc phục hồi danh dự đối với người bị thiệt hại, tổ chức trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai và đăng báo xin lỗi, nhằm khắc phục tình trạng tổ chức xin lỗi, cải chính công khai qua loa, chiếu lệ, không thống nhất và để nhanh chóng khắc phục một phần tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại. Vừa qua, một số cơ quan tiến hành tố tụng hình sự các cấp đã tổ chức các buổi công khai xin lỗi người bị oan và bồi thường thiệt hại cho họ theo đúng quy định, được nhân dân đồng tình.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung "Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại trong tố tụng hình sự". Bạn đọc có vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập