NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Giới thiệu chung về Phần 337 của Đạo luật thuế quan năm 1930:

1.1 Phần 337 Đạo luật thuế quan năm 1930

Phần 337 của Đạo luật thuế quan năm 1930 được soạn ra nhằm giúp đỡ các công ty là nạn nhân của những vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ do các đối thủ cạnh tranh nước ngoài gây ra, hoặc những hành động và kiểu cạnh tranh không lành mạnh trong việc nhập khẩu hàng hóa. Việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm cả những khoản nhập khẩu vi phạm một bản quyền hay một sáng chế đã đăng ký và có hiệu lực, hoặc một nhãn hiệu hàng hóa đang có hiệu lực. Những khoản nhập khẩu vi phạm thời hạn đăng ký tác quyền có hiệu lực, hay việc nhập khẩu vi mạch bán dẫn mà vi phạm một công trình nghiên cứu bí mật đã đăng ký. Những biện pháp cạnh tranh không lành mạnh hoặc những hành động xấu trong việc nhập khẩu hàng hóa cũng như trong việc bán hàng bao gồm những biện pháp và hành động phá hoại, đe dọa hoặc làm tổn hại nghiêm trọng tới một ngành công nghiệp của Mỹ, hoặc ngăn cản sự tạo lập của nó, hoặc kìm hãm, độc quyền hóa việc buôn bán và thương mại tại Mỹ. Sự phân biệt chính giữa hai cách áp dụng là với những sửa đổi phần 337 trong Đạo luật thuế quan năm 1988, những nhà sản xuất Hoa Kỳ không cần phải chứng minh những tổn hại của mình trong những trường hợp có sự vi phạm luật sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ (ví dụ : bằng phát minh sáng chế, bằng bảo hộ quy trình sản xuất, bản quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hóa).

1.2 Sửa đổi, bổ sung của điều luật:

Một thay đổi quan trọng nữa trong phần 337 được đưa vào Bộ luật thương mại năm 1988 là việc định nghĩa lại thế nào là nền công nghiệp Hoa Kỳ. Định nghĩa này xác định ai có 98 quyền khởi kiện, dựa trên các điều khoản của phần 337 này. Định nghĩa nền công nghiệp nội địa đã được mở rộng một cách đáng kể, bao gồm cả các hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển cũng như các hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển cũng như các hoạt động khác nữa. Hơn nữa, một đòi hỏi trước đây quy định nền công nghiệp nội địa phải chứng minh được nó "đang hoạt động một cách hiệu quả" cung đã bị xóa bỏ trong bộ luật thương mại năm 1988 Kết quả của những thay đổi này là những người giữ quyền sở hữu trí tuệ, bây giờ đã có đủ tư cách đệ đơn lên Ủy ban thương mại quốc tế đòi bồi thường, mặc dù họ có thể không phải là doanh nhân Hoa Kỳ.

Trước đây, phần 337 được sử dụng chủ yếu trong các trường hợp vi phạm bằng phát minh sáng chế và nhãn hiệu hàng hóa. Người ta dự kiến rằng Số lượng những vụ kiện được đệ trình lên tòa án có liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ sẽ tăng lên, nhờ việc bãi bỏ một yêu cầu là ngành công nghiệp Hoa Kỳ phải bị tổn hại do những hành vi gian lận gây nên.

Những việc khởi kiện khác dựa trên phần 337 bao gồm cả việc viện dẫn những vi phạm về chống độc quyền, đánh cạp bí mật kinh doanh, miêu tả sai nguồn gốc, bôi nhọ sản phẩm, việc can thiệp không thích hợp vào những giao ước dựa trên cơ sở hợp đồng. Phần 337 vẫn giữ nguyên những đòi hỏi rằng trong những trường hợp vừa kể trên ngành công nghiệp Hoa Kỳ phải chứng minh được là kết quả hoặc xu hướng của những phương pháp và hành động cạnh tranh không lành mạnh sẽ phá hoại hoặc gây tổn hại nghiêm trọng tới nền công nghiệp Hoa Kỳ hoặc những phương pháp và hành động này ngăn cản việc tạo lập các cơ sở công nghiệp Hoa Kỳ hoặc hạn chế hay độc quyền hóa việc buôn bán và thương mại tại Hoa Kỳ.

Tính tổng cộng, đã có 293 trường hợp được phần 337 điều chỉnh kể từ khi luật này được ban hành vào năm 1974.

2. Quá trình áp dụng:

Ủy ban thương mại quốc tế chịu trách nhiệm thi hành phần 337. Một thẩm phán luật hành chính (an administrative Law Judge) chủ trì toàn bộ việc điều tra được dựa trên phần 337 và ra những phán quyết ban đầu trong vụ kiện. Dựa trên cơ sở có sự đề nghị, phán quyết ban đầu này có thể bị những ủy viên của Ủy ban thương mại quốc tế xem xét lại.

Việc thực hiện cuộc điều tra dựa trên phần 337 chủ yếu là do có đơn đòi bồi thường của ngành công nghiệp Hoa Kỳ gửi lên Ủy ban thương mại quốc tế. Hội đoàn, Tổ chức, công ty nào cũng có thể đệ đơn kiện. Ủy ban thương mại quốc tế cũng có quyền tự mình bắt đầu một cuộc điều tra. Ủy ban thương mại quốc tế có 30 ngày kể từ khi nhận được đơn kiện để quyết định xem là họ có nên tiến hành một cuộc điều tra đầy đủ không.

>> Xem thêm:  Cải biên là gì ? Tác phẩm cải biên là gì? Quy định về tác phẩm cải biên theo Luật Sở hữu trí tuệ ?

Ủy ban thương mại quốc tế phải quyết định trong vòng 90 ngày (150 ngày đối với những trường hợp phức tạp) kể từ khi bắt đầu cuộc điều tra là họ có đưa ra hay không lệnh tước quyền tạm thời (temporary exclusion order) trong tiến trình điều tra.

Thực tế từ trước tới nay, Ủy ban Thương mại quốc tế thường chỉ phải ra nhưng lệnh kiểu này khi đơn khiếu nại cung cấp chứng cứ, nếu lệnh tước quyền tạm thời không được đưa ra thĩ sự tổn hại trực tiếp và to lớn sẽ xảy ra trước khi có quyết định cuối cùng. Bộ luật thương mại năm 1988 đã soạn ra quy tắc hoạt động cua Ủy ban Thương mại quốc tế, trong đó quy định tiêu chuẩn để ra những lệnh kiểu này phải giống hệt tiêu chuẩn được sử dụng trong việc quyết định xem có ra lệnh cấm sơ bộ và lệnh hạn chế tạm thời hay không, mà những lệnh này được dựa trên những quy tắc về trình tự tố tụng dần sự liên của liên bang Hoa Kỳ. Ủy ban Thương mại quốc tế phải công bố quyết định có chỉ đạo một cuộc điều tra đầy đủ về khiếu nại trong sổ đăng ký liên bang (Federal rigiste) hay không. Khi cuộc điều tra được tiếp tục, ủy ban Thương mại quốc tế gửi mệt bản sao đơn khiếu nại cho từng người được nêu tên trong đơn đó, và đưa ra thời hạn 20 ngày cho những người này để trả lời bằng văn bản một cách trung thực. Mỗi lời buộc tội trong đơn khiếu nại cần được trả lời. Việc không trả lời trong thời hạn 20 ngày có thể bị coi là việc tự từ bỏ quyền hiện diện và tự bảo vệ chống lại lời buộc tội trong đơn khiếu nại của người bị khiếu nại.

Vào thời điểm này của việc điều tra, một "sự tìm kiếm" được cho phép dưới sự chỉ đạo của một thẩm phán hành chính. Trình tự tìm kiếm bao gồm những lời khai được thực hiên trung thực trước một người ghi chép lại, các cuộc thẩm vấn viết và những yêu cầu đòi đưa ra những văn bản, thông tin bí mật có thể được làm sáng tỏ. Nếu Ủy ban Thương mại quốc tế chấp nhận những thông tin như vậy, thì thông tin này chỉ được người ký lệnh phòng ngừa xem xét mà thôi, Ủy ban Thương mại quốc tế có thể đưa ra một giả thuyết trái với những thông tin là đối tượng của lệnh đó, thậm chí đưa rà những phán quyết ngược lại trong quá trình điều tra, nếu một bên không tuân theo trật tự điều tra. Quá trình tìm kiếm thường xuyên dẫn đến việc giải quyết vụ việc trước khi cuộc điều tra tiếp tục.

Một hội nghị giải trình trù bị có thể được triệu tập để thảo luận những vấn đề liên quan đến việc giải trình chính thức, khi mà vụ việc không được giải quyết một cách không chính thức. Việc giải trình chính thức, tường tự như việc xử ở tòa mà không có hội đồng bồi thẩm diễn ra trước phẩm phán hành chính, sau hội nghị giải trình trù bị. Vào thời gian này, các bên trình bày vụ việc của mình, gọi các nhân chứng, kiểm tra nhân chứng của các bên khác... Một luật sư điều tra làm việc cho Ủy ban Thương mại quốc tế cũng tham gia vào buổi giải trình và đưa ra ý kiến độc lập về các vấn đề trên cơ sở xem xét lại. Các bên được phép đệ đơn kiện hoặc rút đơn kiện sau buổi giải trình với thẩm phán hành chính.

Phần 337 chỉ rõ rằng viên thẩm phán đưa ra phán quyết ban đầu trong vòng 9 tháng kể từ khi bắt đầu cuộc điều tra, hoặc trong vòng 14 tháng trong các vụ việc phức tạp. Phán quyết ban đầu của viên thẩm phán phải đề cập đến tất cả những vấn đề cụ thể của thực tế và luật pháp có thể áp dụng cho vụ việc này. Phán quyết ban đầu này sẽ trở thành phán quyết cuối cùng của Ủy ban Thương mại quốc tế, nếu trong vòng 30 ngày nó khồng bị những ủy viên của Ủy ban Thương mại quốc tế xem xét lại.

Trong vòng 10 ngày, bất cứ bên nào cũng có thể đề nghị những ủy viên của Ủy ban Thương mại quốc tế xem xét lại phán quyết ban đầu, hoặc chính những ủy viên này tự quyết định xem xét lại vụ việc. Các bên đệ trình đơn kiện, và nếu các ủy viên xem xét lại phán quyết ban đầu thì người ta thường tổ chức việc giải trình miệng. Việc xem xét lại cuộc điều tra của các Ủy viên được thực hiện trên cơ sở những biên bản đã được hoàn thành trong cuộc điều tra ; chứng cớ mới có thể không được đưa ra. Những Ủy viên có thể khẳng định, đảo ngược, sửa đổi hoặc xóa bỏ phán quyết ban đầu của viên thẩm phán. Trong thực tế, Ủy ban Thương mại quốc tế hiếm khi tự xem xét lại và ngày càng hay từ chối đơn xin xem xét lại.

Các bên có 14 ngày để đề nghị xem xét lại quyết định cuối cùng, sau khi quyết định này được công bố. Một yêu cầu xem xét lại phải quy định rõ những bồi thường, đòi hỏi và can cứ cho từng yêu cầu bồi thường, và phải b| giới hạn trong những vấn đề mới được nêu ra trong phán quyết cuối cùng và hành động mà phán quyết cuối cùng đòi hỏi. Mỗi một đề nghị không được làm trì hoãn việc thực hiện những hành động do phán quyết cuối cùng này đưa ra.

Ủy ban Thương mại quốc tế phải ra thông báo về quyết định của họ trong những vụ việc do phần 337 điều chỉnh, và phải chuyển một bản sao quyết định của họ cho tểng thống, kèm theo một bẳn báo cáo những hành động được thực hiện, mà những hành động đó là kết quả của cuộc điều tra. Tổng thống có 60 ngày để bác bỏ quyết định của Ủy bạn Thương mại quốc tế, Ủy ban Thương mại quốc tế sẽ ngưng việc tố tụng và các phán xử đã đưa ra, nếu tổng thống bác bỏ quyết định của Uy ban Thương mại quốc tế. Nhưng thông thường, những hành động như vậy của Tổng thông rất hiếm. Nếu không, phán quyết của Ủy ban Thương mại quốc tế sẽ có hiệu lực. Phán quyết dựa trên phần 337 cũng có thể bị chống án lên tòa thượng thẩm để quan tòa mở cuộc điều tra kinh lý ở cấp liên bang.

Bất cứ bên nào cũng có thể yêu cầu sửa đổi hay hủy bỏ những quyết định dựa trên phần 337. Mỗi yêu cầu như vậy phải đưa ra những điều kiện đã thay đổi trong thực tế, trong luật pháp hoặc lợi ích công cộng. Nếu người yêu cầu bị phát hiện là vi phạm phần 337, bộ luật thương mại năm 1988 buộc họ phải chịu trách nhiệm trước những chứng cớ về bất cứ hậu quả của việc sửa đổi hay hủy bỏ nào. Quy chế hạn chế sự sửa đổi hay hủy bỏ đối với những trường hợp có thể được bồi thường dựa theo quy tắc liên bang của trình tự tố tụng dân sự.

3. Hình phạt:

>> Xem thêm:  Tác giả là gì ? Chủ sở hữu quyền tác giả là gì ? Phân biệt giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả ?

Những chế tài được áp đụng theo phần 337 rất nghiêm khắc. Một vi phạm có thể dẫn đến việc hàng hóa có liên quàn bị loại bỏ khỏi thị trường Hoa Kỳ. Hoặc thay vào đó, Ủy ban Thương mại quốc tế có thể đưa ra lệnh ngừng bán hàng cho bên phạm phải những hành động, hoặc thi hành không trung thực. Hình phạt hơn 100.000 đô la mỗi ngày hoặc bằng hai lần giá trị của hàng hóa được đưa vào Hoa Kỳ, hay được bán trong thời gian lệnh này bị vi phạm. Bộ luật thương mại năm 1988 đã sửa đổi phần 337 cho phép tịch thu hàng nhập khẩu nếu :

(1) Chính bên đó trước đây đâ cố gắng nhập khẩu hàng hóa đó.

(2) Mặt hàng đó đã bị cấm đưa vào Hoa Kỳ theo lệnh loại bỏ của phần 337 và

(3) Đã có thông báo vào thời điểm đưa mặt hàng này vào Hoa Kỳ quy định rằng lệnh loại trừ được áp dụng cho mặt hàng đó, và biện pháp thu giữ, tịch biên sẽ được áp dụng cho những toan tính khác nhằm đưa hàng hóa vào Hoa Kỳ. Trọng thực tế, pKân lớn các vụ việc do pKân 337 điều chỉnh được giải quyết trước khi Ủy Ban Thương mại quốc tế ra phán quyết.

4. Thách thức của GATT đối với phần 337:

GATT đã xem xét phần 337 vào năm 1988. GATT thấy rằng phần 337 vi phạm những nguyên tắc của GATT, bởi vì nó đã không cung cấp một giải pháp mang tính quốc gia cho việc nhập khẩu. Các công ty Hoa Kỳ mong muốn kiện các công ty Hoa Kỳ khác về những vi phạm này, được bảo đảm bởi phần 337 r an phải gửi đơn lên tòa án địa phương của Hoa Kỳ, hơn là gửi lên Ủy ban Thương mại quốc tế. GATT nhận thấy phần 337 quy định hình phạt nghiêm khắc hơn đối với hàng hóa nhập khẩu bị buộc tội vi phạm bản quyền so với hàng hóa của Hoa Kỳ bị xử ở Tòa án liên bang Hoa Kỳ. Hoa Kỳ không chấp nhận bản báo cáo này của tổ chức GATT, và cũng không có dấu hiệu nào chứng tỏ Hoa Kỳ sẽ sửa đổi phần 337 sau những phát hiện trên của GATT.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tìm hiểu về Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hiểu như thế nào là hình phạt?

Trả lời:

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.

Câu hỏi: Hình phạt có mục đích là gì?

Trả lời:

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Câu hỏi: Hiểu như thế nào là hình phạt bổ sung?

Trả lời:

Hình phạt bổ sung là hình phạt được áp dụng kèm theo hình phạt chính bổ sung cho hình phạt chính.